(Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG trình bày)

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thưa các vị đại biểu Quốc hội, Thưa các đồng chí lão thành cách mạng và các vị khách, Thưa đồng bào, đồng chí! Để chuẩn bị cho Kỳ họp quan trọng này của Quốc hội, sau khi tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã hoàn chỉnh và gửi trước đến các vị đại biểu Quốc hội Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội năm 2009 và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010; Báo cáo kết quả thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2009, dự toán ngân sách Nhà nước năm 2010, cùng với nhiều báo cáo chuyên đề khác[1]. Hôm nay, thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo với Quốc hội và đồng bào cả nước một số vấn đề lớn về tình hình kinh tế, xã hội năm 2009 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2010. Phần thứ nhất ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI NĂM 2009 Chúng ta thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2009 trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến hầu hết các nước. Là một nền kinh tế có độ mở lớn, hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, khủng hoảng và suy thoái đã tác động nghiêm trọng đến kinh tế nước ta, nhất là xuất khẩu, đầu tư, du lịch. Ở trong nước, hệ quả của các biện pháp kiềm chế lạm phát thực hiện trong năm 2008 cùng với thiên tai dịch bệnh liên tiếp xảy ra làm trầm trọng thêm những khó khăn yếu kém của nền kinh tế; các thế lực thù địch lại tăng cường hoạt động chống phá. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã thường xuyên cập nhật thông tin, phân tích tình hình và ngay từ đầu tháng 10-2008 đã có bước điều chỉnh mục tiêu hành động, trong đó xác định chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế cùng với việc kiềm chế lạm phát. Những tháng tiếp theo, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế phát triển rất nhanh và tác động tiêu cực ngày càng lớn. Trong suốt quý IV, Chính phủ đã thảo luận nhiều lần, tham khảo ý kiến của các chuyên gia để hình thành chính sách và giải pháp thích hợp. Đầu tháng 12-2008 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, tại kỳ họp thứ 5, Chính phủ đã trình và được Quốc hội chấp nhận điều chỉnh mục tiêu tổng quát, trong đó chuyển từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang ưu tiên ngăn chặn suy giảm kinh tế, một số chỉ tiêu cụ thể về kinh tế và ngân sách cũng đã được điều chỉnh. Đây là sự chuyển hướng quan trọng, kịp thời, đúng đắn và cũng rất khó khăn trước tình hình diễn biến rất phức tạp, thể hiện bước tiến mới về năng lực lãnh đạo, trình độ dự báo và khả năng phản ứng chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, sự ủng hộ và giám sát của Quốc hội, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cộng đồng doanh nghiệp và sự điều hành quyết liệt của chính quyền các cấp, đến nay, tuy khó khăn, thách thức còn nhiều nhưng tình hình kinh tế, xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Trên cơ sở kết quả 9 tháng đầu năm và dự kiến mức thực hiện trong các tháng cuối năm, Chính phủ đánh giá tình hình kinh tế, xã hội năm 2009 như sau: I. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU 1. Ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng khá và tăng được nguồn lực đầu tư phát triển trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái Nội dung chủ yếu của Nghị quyết 30 là tập trung tháo gỡ mọi khó khăn để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, mở rộng thị trường nội địa, kích cầu đầu tư và hỗ trợ tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế làm giảm thu nhập và sức mua toàn cầu; cạnh tranh về giá trên thị trường là cạnh tranh gay gắt nhất. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất năm 2008 của nước ta đã hình thành ở mức rất cao, làm tăng chi phí vốn và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính phủ đã cân nhắc nhiều mặt và sau khi giảm lãi suất cơ bản xuống mức hợp lý, đã quyết định hỗ trợ lãi suất vay vốn lưu động 4%/năm, thực hiện từ tháng 4 đến hết tháng 12-2009 cho tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh; đến cuối tháng 9, tổng dư nợ cho vay thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất là khoảng 405 nghìn tỉ đồng (các doanh nghiệp ngoài Nhà nước vay 84%, doanh nghiệp Nhà nước vay 16%). Đồng thời đã giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đến nay đã bảo lãnh cho 1.110 dự án kinh doanh với tổng mức vốn được bảo lãnh là 8.365 tỉ đồng, số lượng chưa lớn nhưng là sự mở đầu quan trọng, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế rất cần thiết này. Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát đã chuyển được sự hỗ trợ của Chính phủ thành sức gia tăng của sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh, duy trì hoạt động và tạo thêm việc làm[2]. Thực hiện các biện pháp để mở rộng thị trường, tăng thêm ngân sách và đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến thương mại, mặc dù giá hàng xuất khẩu giảm mạnh nhưng số lượng hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của nước ta đều tăng, thể hiện sự phát triển của sức sản xuất[3]. Riêng xuất khẩu gạo cả năm đạt khoảng 6 triệu tấn, mức cao nhất từ trước tới nay. Mở rộng thị trường nội địa là một chủ trương được tập trung chỉ đạo. Đã triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Chính phủ đã bố trí ngân sách xúc tiến thương mại trên thị trường nội địa. Các hoạt động mở rộng thị trường trong nước đã được doanh nghiệp tích cực thực hiện, nhiều doanh nghiệp đã tổ chức đưa hàng Việt về nông thôn. Mặt khác để kích cầu tiêu dùng, đã miễn, giảm, giãn hoãn thời gian nộp một số loại thuế, với tổng số khoảng 20.000 tỉ đồng (miễn giảm 13.700 tỉ đồng, giãn là 6.300 tỉ đồng); hỗ trợ lãi suất cho nông dân mua máy nông nghiệp, vật tư phục vụ sản xuất, xây dựng nhà ở...; cho vay không lãi để phát triển hạ tầng thiết yếu trong nông nghiệp, nông thôn. Với các chính sách và giải pháp thiết thực đó, tổng giá trị hàng hóa bán lẻ và tiêu dùng dịch vụ 9 tháng đầu năm 2009 tăng 18,6% so với cùng kỳ, ước tính cả năm tăng khoảng 20%, nếu loại trừ tăng giá vẫn tăng trên 10%, cao hơn năm 2008, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Các chính sách hỗ trợ nêu trên cũng làm giảm bớt nỗi vất vả của bà con nông dân, thúc đẩy cơ khí hóa nông nghiệp; lượng sản xuất và tiêu thụ máy kéo, xe vận chuyển, máy bơm nước, máy gặt đập liên hợp... tăng mạnh[4]. Đã tăng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước và trái phiếu chính phủ, tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, vào nông nghiệp và nông thôn, các công trình văn hóa, xã hội, chủ yếu là y tế, giáo dục, xây dựng ký túc xá cho sinh viên và nhà ở cho người nghèo. Những công trình này đã góp phần tăng GDP trong ngành xây dựng, có tác dụng lan tỏa sang các ngành sản xuất và giải quyết một bước những khó khăn đã tồn tại nhiều năm. Để khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đã hỗ trợ lãi suất tín dụng đầu tư thời gian 2 năm; đồng thời tăng cường các biện pháp xúc tiến đầu tư, thu hút đầu tư từ nước ngoài và vốn viện trợ phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 708,5 nghìn tỉ đồng, bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 2008. Trong điều kiện khó khăn, việc tăng được vốn đầu tư toàn xã hội là rất có ý nghĩa cả trước mắt và lâu dài. Vốn đầu tư tăng thêm, thủ tục đầu tư, xây dựng có bước được cải tiến, nhất là sau khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản đã tạo thêm xung lực mới cho tăng trưởng. Đến hết tháng 9, tỷ lệ giải ngân đạt 67,3%, mức cao nhất trong nhiều năm lại đây. Nhờ các giải pháp tổng hợp nêu trên, chúng ta đã sớm ngăn chặn được đà suy giảm. Các doanh nghiệp đã vượt qua được thời điểm khó khăn nhất, sản xuất được phục hồi và có bước phát triển, lao động được thu hút trở lại; 76 nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, tạo thêm trên 1,5 triệu chỗ làm việc. Từ quý II, giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng trở lại một cách ổn định, tháng sau cao hơn tháng trước[5], 9 tháng tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008 và dự kiến cả năm tăng khoảng 7,2%. Giá trị tăng thêm của ngành xây dựng từ âm 0,4% năm 2008 tăng lên 11,3% năm 2009. Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ tăng khoảng 6,5%. Vượt qua thiên tai, dịch bệnh, nông nghiệp phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất 9 tháng tăng 2,6%, dự kiến cả năm tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) quý sau tăng cao hơn quý trước: Quý I: 3,14%, quý II: 4,46%, quý III: 5,76%, 9 tháng đầu năm tăng 4,56%, dự kiến cả năm tăng khoảng 5,2% đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra[6]. 2. Bảo đảm được ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Để ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và không để lạm phát cao trở lại, đã nhanh chóng chuyển chính sách tài chính, tiền tệ từ thắt chặt sang thực hiện chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ nới lỏng, linh hoạt, thận trọng. Mặc dầu phải giảm các khoản thuế, tăng chi cho kích thích tăng trưởng và an sinh xã hội nhưng nhờ sớm ngăn chặn được suy giảm, sản xuất kinh doanh phục hồi và có bước phát triển nên tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2009 dự kiến đạt khoảng 390,65 nghìn tỉ đồng, bằng 100,2% kế hoạch dự toán; bội chi ngân sách được khống chế ở mức 6,9% GDP. Tỷ lệ dư nợ quốc gia so với GDP khoảng 29,7%, vẫn trong giới hạn an toàn. Thực hiện các biện pháp kiềm chế nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, nhập khẩu giảm mạnh hơn xuất khẩu nên tỷ lệ nhập siêu giảm còn khoảng 16,5% so với 28,8% năm 2008. Các nhu cầu cơ bản về ngoại tệ được bảo đảm với tỷ giá tương đối ổn định. Dự trữ ngoại hối Nhà nước vẫn duy trì ở mức bảo đảm 12 tuần nhập khẩu. Việc thực hiện chính sách tiền tệ được giám sát chặt chẽ. Tổng phương tiện thanh toán ước tính cả năm tăng khoảng 25%; tổng dư nợ tín dụng tăng khoảng trên 30%. Tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3%; hệ thống ngân hàng bảo đảm được an toàn và có bước phát triển. Giá cả tương đối ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng 4,11% so với tháng 12-2008, ước cả năm tăng khoảng 7%. Các mặt hàng xăng dầu, điện, than được chuyển sang cơ chế giá thị trường theo lộ trình, không gây xáo trộn lớn. Việc chủ động chuyển hướng điều hành các chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt, đồng bộ và phù hợp với tình hình thực tế đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế được lạm phát ở mức chỉ bằng 1/3 của năm 2008. 3. Thực hiện có kết quả việc bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách, những vùng khó khăn; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước phát triển mới trong điều kiện kinh tế suy giảm Đặc biệt coi trọng an sinh xã hội và quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách và những vùng khó khăn là nét nổi bật trong năm 2009. Cùng với việc bảo đảm đủ nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện các chính sách, chương trình, dự án đã có, đã sửa đổi bổ sung và ban hành nhiều chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội mới như: hỗ trợ người nghèo ăn Tết và người lao động mất việc; trợ cấp khó khăn cho cán bộ công chức có thu nhập thấp trong 4 tháng đầu năm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; triển khai chương trình giảm nghèo ở 62 huyện; hỗ trợ khuyến nông, khuyến ngư ở địa bàn khó khăn; xây dựng các công trình cấp nước trên các đảo có đông dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; xây dựng ký túc xá cho sinh viên; chính sách xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp ở đô thị[7]; điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp... Tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỉ đồng, tăng 62% so với năm 2008. Chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỉ đồng. Trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo (riêng số gạo cứu trợ đợt đầu khắc phục hậu quả bão số 9 là 10.300 tấn). Tổng dư nợ của 18 chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách do Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện ước đến cuối năm đạt 76 nghìn tỉ đồng, tăng 45,3% so với năm 2008. Các doanh nghiệp đã hỗ trợ 62 huyện nghèo trên 1.600 tỉ đồng. Kết quả các nỗ lực chung đó đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, đến cuối năm còn khoảng 11%. Các lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục có bước phát triển tích cực. Hệ thống pháp luật và các định hướng phát triển về giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ và môi trường tiếp tục được hoàn thiện. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa và thực hiện nhiều chính sách, giải pháp thích hợp để phát triển các lĩnh vực này. Quy mô giáo dục, đào tạo các cấp học đều tăng[8]. Số học sinh bỏ học giảm 41% so với năm học trước. Có thêm 8 tỉnh đạt phổ cập trung học cơ sở, nâng số tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập trung học cơ sở lên 55. Kế hoạch xây dựng trường và nhà công vụ được triển khai tích cực[9]. Năm 2009, có trên 1,4 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn tín dụng ưu đãi (chiếm khoảng 30% học sinh, sinh viên), với tổng dư nợ khoảng 18.800 tỉ đồng, tăng gần gấp đôi năm 2008. Hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ được đầu tư phát triển đồng bộ hơn, nhiều tổ chức hoạt động hiệu quả theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm hoặc cơ chế doanh nghiệp. Các khu công nghệ cao đang được khẩn trương xây dựng và bước đầu đã có sản phẩm[10]. Số lượng giao dịch mua bán công nghệ tăng khoảng 37%. Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh. Hạ tầng mạng được mở rộng và nâng cấp tạo điều kiện phủ sóng đến các vùng sâu, vùng xa, biển Đông và hải đảo. 9 tháng qua, thuê bao điện thoại phát triển mới tăng 74,1% so cùng kỳ, nâng tổng số thuê bao toàn mạng đạt 113,6 triệu; số người sử dụng dịch vụ Internet là 22,4 triệu. Một số doanh nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin đã đầu tư ra nước ngoài đạt kết quả bước đầu. Đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp phòng, chống dịch và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; tăng cường cán bộ y tế cho các tuyến dưới, nhất là các xã thuộc vùng khó khăn; đẩy mạnh xây dựng và trang bị kỹ thuật cho các cơ sở y tế[11]; chỉ tiêu về số giường bệnh và số bác sĩ trên 1 vạn dân đạt và vượt kế hoạch đề ra[12]; việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được quan tâm; quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh được tăng cường; vệ sinh an toàn thực phẩm được coi trọng hơn. Có nhiều cố gắng trong việc thực hiện bình đẳng giới và bảo đảm các quyền của trẻ em. Văn hóa, thể thao có bước phát triển; hệ thống thiết chế văn hóa, công trình văn hóa quốc gia được quy hoạch và đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng; mức hưởng thụ văn hóa thông tin của nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa được nâng lên[13]. Công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng đất đai, tài nguyên, môi trường và việc kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm về môi trường có tiến bộ[14]. Việc xử lý chất thải y tế, chất thải đô thị, khu công nghiệp và xử lý ô nhiễm các lưu vực sông đạt được một số kết quả. Đã hình thành bước đầu kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng để làm căn cứ xây dựng các phương án ứng phó thích hợp[15]. Các cơ sở dự báo về khí tượng thủy văn được đầu tư nâng cấp. Công tác phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai được quan tâm chỉ đạo. 4. Cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm đạt được những kết quả tích cực Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội cơ bản được hoàn thành, chất lượng và tiến độ khá hơn. Các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc thống kê trên 5.700 thủ tục hành chính được thực hiện tại 4 cấp chính quyền. Chính phủ công bố cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên mạng internet. Lần đầu tiên các bộ, ngành, tỉnh, thành phố đã công khai bộ thủ tục hành chính của bộ, ngành, địa phương mình, thể hiện một bước tiến mới trong cải cách thủ tục hành chính. Mô hình một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin và tiêu chuẩn ISO trong giải quyết thủ tục hành chính đang được tích cực triển khai tại các cơ quan hành chính Nhà nước. Các cuộc họp, đối thoại trực tuyến đã góp phần nắm bắt nhanh tình hình, tháo gỡ kịp thời hơn các vướng mắc và tiết kiệm chi phí. Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường được chuẩn bị chu đáo và triển khai thực hiện có kết quả. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện tiếp tục được rà soát, kiện toàn. Đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để phòng, chống tham nhũng và đạt được những kết quả thiết thực trên cả 2 mặt phòng và chống. Các hoạt động thanh tra, kiểm tra và điều tra, xử lý các vụ tham nhũng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật[16]. Chính quyền các cấp giải quyết được khoảng 84% các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó có những vụ việc phức tạp, tồn đọng kéo dài. Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai tích cực gắn với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 5. Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao Công tác quốc phòng và an ninh tiếp tục được coi trọng; bảo đảm chủ quyền quốc gia và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các lực lượng vũ trang nhân dân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố và tăng cường; xã hội đồng thuận; thực hiện tốt hơn dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội và chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Đã xử lý đúng pháp luật các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền, chính sách tôn giáo, dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết và gây mất trật tự an toàn xã hội. Công tác phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội được quan tâm chỉ đạo và đã có những kết quả thiết thực. Công tác đối ngoại đạt được kết quả khá toàn diện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế. Đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc, tạo điều kiện rất quan trọng để xây dựng biên giới Việt - Trung hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển bền vững, lâu dài. Quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, các đối tác lớn có bước phát triển mới; đã ký kết và đưa vào thực thi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản (VJEPA); tạo được bước phát triển sâu rộng hơn về hợp tác kinh tế với một số đối tác tại Trung Đông; mở rộng quan hệ với các nước châu Phi, Mỹ La tinh. Đảm nhiệm tốt vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc... Kết quả đạt được sau gần 3 năm gia nhập WTO tiếp tục khẳng định sự đúng đắn của chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Chủ động hội nhập càng sâu rộng thì lợi ích tổng thể càng lớn, vừa mở rộng thị trường ngoài nước, vừa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Mặt khác, hội nhập cũng làm bộc lộ rõ hơn những bất cập, yếu kém và tính dễ tổn thương của nền kinh tế để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chúng ta càng nhận thức rõ hơn phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM Trong khi khẳng định những kết quả tích cực nêu trên, cần nghiêm túc nhận rõ những hạn chế, yếu kém nổi lên là: 1. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2009 thấp nhất trong 10 năm gần đây. Tăng trưởng chủ yếu vẫn theo chiều rộng, cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh còn thấp. Các doanh nghiệp và cả nền kinh tế chưa chuyển mạnh theo hướng biến thách thức thành cơ hội để cơ cấu lại sản xuất. Công nghiệp tuy đã vượt qua khó khăn, nhưng tăng trưởng vẫn ở mức thấp. Sản xuất nông nghiệp kém bền vững, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất canh tác còn rất thấp. Xuất khẩu và du lịch giảm mạnh. Tiêu thụ hàng hóa