TP - Từ lâu vẫn có một quả núi đá vôi lớn “cổ sơn thiên tạo” nằm trong hệ thống dãy núi đá vôi thuộc xã Mông Sơn, huyện Yên Bình (Yên Bái), trong lòng núi là một hang động lớn chia thành ba tầng với vòm, vách đá tạo hình rất đẹp mắt.

Động Tiên Cá, Núi Hang Dơi, Động Thủy Tiên, Hang Tỉnh ủy... là những cái tên gắn với mỗi huyền thoại dân gian, mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc. Chuyến tàu Hà Nội - Lào Cai dừng ở ga Yên Bái lúc 4 giờ sáng. Trở về xứ sở của những cơn mưa rừng dào dạt sau nhiều năm bận bịu quẩn quanh phố phường, một thoáng ngỡ ngàng ập đến rồi tan ngay theo làn sương sớm. Vẫn đây, con phố chạy dọc bờ sông, nền chợ cũ chưa thay đổi, góc ngã tư mặc trầm dáng cổ thụ…Vẫn nồng ấm anh em bè bạn của một thời nông nổi, ngẫu hứng và tràn trề khát vọng chinh phục. Nhà văn Hoàng Việt Quân lên ngay một chương trình khám phá những địa danh trong bán kính 50km, lấy chính ga Yên Bái làm tâm điểm của đường tròn giả định. “Sẽ có những điều khiến các vị bất ngờ đến sững sờ” - nghe như một slogan của anh chàng hướng dẫn viên du lịch thạo nghề, nhưng âm điệu và ánh mắt của lão nhà văn tuổi lục tuần này còn hứa hẹn nhiều điều “hơn cả bất ngờ”. Từ thành phố Yên Bái xuống cây số 13, rẽ trái vào bến cảng Hương Lý thuê thuyền đi thăm lòng hồ Thác Bà. Ngồi trên thuyền máy chạy với tốc độ 30km/h, phải mất gần 4 tiếng mới đi hết một vòng quanh 1.331 hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô trên sóng nước và những hang động sơn thủy hữu tình. Không gian thoáng đãng, trời nước mênh mông, cây cối phủ xanh mướt những hòn đảo san sát (mà đa phần đã thuộc quyền sở hữu của các ông chủ trang trại). Đến mỗi địa danh, nhà văn Hoàng Việt Quân lại “gào” to những lời thuyết minh, át cả tiếng cô - le nổ giòn giã: “…Núi Cao Biền, núi Chàng Rể, đền Thác Ông, đền Thác Bà, Đát Ô Đồ, động Xuân Long…”. Mỗi ngọn núi, ngôi đền ở đây đều gắn với một truyền thuyết dân gian hay huyền thoại ly kỳ, độc đáo, cảm động về tình người, về ý chí và sức lao động sáng tạo phi thường nhằm chinh phục thiên nhiên của người xưa. Riêng đền Thác Bà nằm trên núi Hoàng Thi là đền thờ Mẫu, lễ hội chính vào ngày mùng 8, mùng 9 tháng Giêng hàng năm, người địa phương và du khách tấp nập đến dâng hương hoa thờ cúng. Đi vào giữa vùng sâu rộng nhất của lòng hồ, dòng ký ức cuồn cuộn dội về theo niềm tự hào pha chút thảng thốt của nhà văn họ Hoàng: Dưới lòng hồ trước đây là dòng sông Chảy bắt nguồn từ Hà Giang, nhập vào sông Lô đoạn Đoan Hùng (Phú Thọ) và chảy suốt 85km trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Nơi đây sớm hình thành một vùng văn hóa từ thời nhà nước Văn Lang; đời Trần là huyện Thu Vật thuộc phủ Yên Bình; đời Lê đổi thành châu; năm Minh Mạng thứ ba là Châu Thu; năm Thiệu Trị thứ tư chuyển lên Hoàng Loan Hạ... Vùng sông Chảy lắm thác nhiều ghềnh, nổi tiếng nhất là hai thác lớn dữ dằn chảy xiết: Thác Ông và Thác Bà, nhưng cũng là nơi ban tặng cho con người nhiều sản vật thiên nhiên, tôm cá dồi dào, phù sa màu mỡ… Cả một vùng dân cư tập trung sinh sống bao đời, gắn bó với vùng đất cổ rộng lớn, tạo dựng một nền văn hóa truyền thống mang nhiều nét đặc trưng của các dân tộc anh em: Tày, Mường, Dao, Thái, Cao Lan… Thời kỳ đất nước chuyển mình theo đà phát triển mới, nhiệm vụ công nghiệp hóa được đặt lên hàng đầu, Thác Bà chính là nơi hội tụ đầy đủ các điều kiện thích hợp để xây dựng công trình thủy điện đầu tiên ở nước ta. Thác ghềnh hoang sơ thuở trước biến thành một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam với diện tích 23.000ha, có sức chứa ba tỷ mét khối nước. Sản lượng điện hàng năm đạt 450 triệu KWh. Ngắm nhìn công trình được mang dấu ấn thời đại mới, thẳm sâu bên trong niềm tự hào bất chợt nhói lên cảm giác tiếc nhớ về một miền văn hóa vĩnh viễn nằm lại dưới mấy chục mét nước… Dòng suy tưởng bị cắt ngang bởi tiếng reo: “Đến động Thủy Tiên rồi đấy!”. Động trước kia vốn có ba tầng, có đường thông lên trời, đường dẫn xuống nước. Tầng dưới chân núi có gần chục hang, hang nọ cách hang kia chừng dăm bảy mét, có hang chứa nước theo mạch sông Chảy. Tầng hang lưng chừng núi chia làm ba hang (mỗi hang rộng cỡ một gian nhà), miệng quay về hướng đông nam. Tầng trên cùng là một hang lớn, vòm cao, nhiều nhũ đá rủ xuống dủ các hình thù kỳ thú. Theo đường đá trong hang leo lên đỉnh núi, đưa mắt ra xa xa phía chân trời, toàn bộ vùng thượng Yên Bình và dãy núi đá vôi chạy suốt mạn Đồng Thanh, An Vương, Mông Sơn, Đại Đồng trông như đàn voi đang chầu về đất tổ Phong Châu. Dòng sông Chảy mềm mại uốn lượn ôm lấy phía đông bắc dãy núi, thấp thoáng những đồng cỏ, ruộng nương xanh mướt mát; những nếp nhà sàn bình yên trong thung lũng, những công trình của tín ngưỡng dân gian: nhà thờ, đền chùa, đình miếu…gắn bó với đồng bào dân tộc đã cùng nhau sinh sống, tạo dựng và gìn giữ nét truyền thống văn hóa tốt đẹp. Những câu chuyện được kể lại qua hình thức truyền miệng, bằng trí tưởng tượng phong phú, theo cách quan sát của mỗi người sáng tạo ra các “dị bản” mang màu sắc huyền bí, lãng mạn riêng. Xưa kia, nơi này có chín nàng tiên xinh đẹp trốn Ngọc Hoàng xuống vui chơi chốn hồng trần, nên được gọi là Động Thủy Tiên. Trước khi bay về trời, các nàng rủ nhau tắm gội ở giếng nước trong lòng động, giếng này được đặt thành Giếng Tiên. Một truyền thuyết khác: đây chính là nơi trú ngụ của hoàng tử con vua Thủy Tề, chàng giữ vài trò cai quản vùng sông núi tươi đẹp này nên động còn có tên là Động Thủy Thần. Người dân tộc Tày vùng này vẫn lưu truyền câu chuyện cổ tích “Đôi gà thần” : Trong vùng có người con gái nết na hiền dịu, hát hay múa đẹp nhưng nhà nghèo quá, khi cha mất phải đến nhà phú hộ mượn tiền, mượn trâu làm ma. Quanh năm vất vả làm lụng mà vẫn không trả hết nợ, phú ông dọa sẽ bắt về làm vợ lẽ trừ nợ. Cô gái lo buồn đến héo hon, ngồi quay tơ mà lòng dạ rối bời. Bỗng có hai con gà trắng từ đâu chạy đến vướng chân vào làm đứt sợi tơ, cô gái đuổi theo đôi gà, lạc đến một cửa hang. Đôi gà trắng thoát xác biến thành hai chàng trai khôi ngô tuấn tú, đó là hai hoàng tử từ lâu biết tiếng người con gái đẹp, muốn lấy nàng làm vợ. Hoàng tử lớn đã đem vàng bạc trả hết nợ cho phú ông rồi đưa nàng về thủy cung. Họ sống hạnh phúc bên nhau, dạy cho dân chúng trong vùng cách chăn nuôi, trồng trọt, dệt vải và dạy các loài thủy tộc biết múa hát, vui chơi… Cuộc sống thật chan hòa, ấm áp, thanh bình. Động Thủy Tiên có một thời kỳ được đặt tên là “Hang Tỉnh ủy” - cái tên gắn với thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hơn ba năm (1965 – 1969), Tỉnh ủy Yên Bái và các cơ quan đầu não của tỉnh sơ tán về đây để tránh máy bay. Ba tầng hang đảm nhận những chức năng khác nhau: Tầng dưới chân núi là chỗ làm việc của các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh, Trưởng ban kiểm tra Đảng cùng nhiều đồng chí trong văn phòng tỉnh. Tầng lưng chừng núi thuộc các bộ phận cơ yếu: có hang làm kho dự trữ lương thực, đạn dược, thuốc men; có hang làm căng tin bán hàng hóa phục vụ sinh hoạt. Tầng trên cùng dành làm hội trường tỉnh ủy. Tầng này thoáng đãng, có nền đá rộng và bằng phẳng có thể xếp ghế cho hàng trăm người ngồi tham dự hội nghị, mít tinh, đồng thời còn làm sân khấu biểu diễn văn nghệ. Suốt thời gian sơ tán, ở Hang Tỉnh ủy diễn ra nhiều kỳ hội nghị ban chấp hành tỉnh ủy, ra các quyết định quan trọng để Yên Bái góp phần đánh thắng giặc Mỹ. Năm 1969, tỉnh ủy rút khỏi Hang Dơi về làm việc tại khu lâm trường Minh Bảo. Ngày 22-2-1970 mở hội lấp sông, phục vụ dự án xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà. Hang Tỉnh ủy ngập mất 2/3, toàn bộ hệ thống hang dưới cùng và tầng giữa chìm trong nước, trở thành Động Tiên Cá. Nhưng cán bộ và nhân dân Yên Bái vẫn quen gọi bằng cái tên mộc mạc mà trân trọng: Hang Tỉnh ủy. Thuyền cập đảo, leo qua những bậc đá phủ dày xi măng lên tới cửa hang, gặp ngay hai bức tượng không còn trông rõ hình hài, màu sắc đứng hai bên, tay đặt lên đốc kiếm như sẵn sàng trừng phạt những ý nghĩ bất kính. Vẳng ra từ miếu Cô Tiên gần đó giọng niệm Phật đều đều theo vòng quay tự động của đĩa CD. Sau khi trả phí tham quan bao gồm cả tiền ánh sáng, máy phát điện công suất nhỏ được bật lên, mấy chiếc bóng compaq lờ mờ soi lối vào hang. Trong ánh đèn mập mờ hư ảo, các cột đá, khánh, chiêng đá, búp đá, hoa đá... hơi bày khá lộ liễu những tên người, chữ nghĩa lem nhem, dấu ấn của những người vô ý thức đã khắc bằng dao, gạch. Phía trên “Hội trường đá”, nơi từng diễn ra nhiều cuộc mít tinh, họp bàn quan trọng giờ đây đắp xi măng thành ba bệ vuông vức cao khoảng 1,2m, mỗi bệ đặt ba bát nhang rất to nhưng hương tàn khói lạnh. Tại sao giữa lòng “Hang Tỉnh ủy” lại có bát nhang? Có bát đã bị đập vỡ tan tành. Lý do gì nhỉ? Nhà văn Hoàng Việt Quân lắc đầu cười bí ẩn trước mọi thắc mắc, không giải thích gì thêm. Đi gần hết ngõ ngách trong lòng hang thì đèn đóm tắt phụt, tương đương một lời báo hiệu hết giờ thăm. Thẫn thờ chui lên mặt đất, nhận được lời an ủi: “Trên đỉnh núi còn có tượng cô tiên”. Hơn 200 bậc đá dốc đứng bám ven sườn núi dẫn lên một tấm bê tông rộng chừng 4 m2 nhô ra phía mặt hồ, chính giữa là bức tượng tiên nữ tha thướt xiêm y. Ngước nhìn, tượng cao khoảng 3m mà bỗng dưng thấy vời vợi, bởi không gian quá chật hẹp nên người ngắm tượng phải ngửa cổ lên trời. Toàn bộ thân tượng đắp bằng xi măng pha cát, bên ngoài quét lớp vôi trắng đã bợt bạt theo thời gian. Đứng dưới chân tiên nữ ngắm nhìn khoảng trời nước ngút ngát trước mặt cũng thấy lòng mình lắng lại đôi chút. Chốc chốc lại bắt gặp những chiếc xà lan đôi rất lớn chở đầy đá trắng chạy ngang qua. Chợt nôn nao với ý nghĩ: Tiên nữ (xi măng) ngày ngày đứng nhìn những khối đá quý bứt ra khỏi núi, xuôi theo dòng nước về xưởng chế tác thủ công mỹ nghệ nào đó hoặc xuất khẩu ra nước ngoài, không hiểu người có chạnh lòng tủi thân như kẻ phàm trần đang đứng ngay dưới chân mình mà băn khoăn, nghĩ ngợi…?