Mười sáu tuổi, tôi tham gia cách mạng và đến năm 17 tuổi vào bộ đội, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Năm 20 tuổi, ngay trên chiến hào, tôi được kết nạp vào Đảng. Bốn năm sau đó, tôi bị địch bắt, đày ra Côn Đảo với bản án chung thân khổ sai.

Hồi ở chiến trường, tôi từng tham gia những trận đánh ác liệt, chứng kiến nhiều cảnh thương vong, chết chóc nhưng ở giữa “địa ngục trần gian”, đứng giữa bốn bức tường mà không một tấc sắt trong tay, chúng tôi chỉ biết biến lòng căm thù thành sức mạnh và đoàn kết nhau để chiến đấu. Mục đích để bảo vệ khí tiết cá nhân mình và giữ gìn thanh danh của Đảng, giữ gìn niềm tin mãnh liệt vào ngày cách mạng thành công.

Sau khi nếm mùi Chuồng Cọp, Chuồng Bò... , tôi bị đưa về Phòng số 1 thuộc Trại I, Côn Đảo. Ở đây, tù chính trị chúng tôi sinh hoạt có nền nếp hơn, thoải mái hơn vì địch không còng chân. Mỗi ngày chúng tôi được ra ngoài bốn giờ đồng hồ. Và các đồng chí là đảng viên lúc này đã được tập hợp lại để sinh hoạt đảng. Thời điểm này, tù chính trị Côn Đảo đã chi phối gần như hoàn toàn ở trạm xá, nhà bếp, vườn rau. Tôi được phân công ghi chép tin trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Tiếng nói Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam. Chiếc ra-đi-ô do bên ngoài đưa vào nhưng được đồng chí Trần Văn Hiếu cải tiến rất tinh vi và trực tiếp phụ trách khâu kỹ thuật. Các mối hàn và các chân tụ điện, chân các transistor đều được thay bằng nút bấm (nút bóp) để dễ tháo rời cất giấu. Chúng tôi ngoài việc lấy tin và sao chép phổ biến tin, còn tổ chức học tập chính trị, văn hóa văn nghệ. Đêm 27-1-1973, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Tiếng nói Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam đồng loạt đưa nội dung Hiệp định Pa-ri (về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam) được ký kết. Thế là trong tù, thông tin cho hay địch sẽ phân loại để biến hóa danh sách tù nhân chính trị thành tù thường án để khỏi phải trao trả cho phía cách mạng. Trước tình hình này, chi bộ đảng có chủ trương đối phó. Phòng 1 chúng tôi thành lập tổ xung kích (tôi là thành viên) là những đồng chí trẻ, khỏe, có bản lĩnh để chống đàn áp; còn đấu lý với địch thì do các anh, chú có kinh nghiệm.

Đúng như nhận định của ta, sáng 30-4-1973, bọn cảnh sát dã chiến thuộc Biệt đoàn 222 (Nhền Nhện Khùng) đã tràn vào sân trại. Lần đàn áp để chia tách này, còn có bọn cảnh sát đặc biệt từ Tổng Nha Cảnh sát quốc gia tham gia. Trước khi đàn áp, địch đã dùng bao bố bịt các cửa sổ. Từng ô cửa sổ chỉ thấy họng súng phóng lựu chĩa vào phòng giam. Tên nào cũng mang mặt nạ mỏ heo chống độc. Không thương lượng, không kêu gọi và sẵn sàng tử thủ, tôi liều mình đập nát khạp đựng nước uống lấy mảnh sành chia cho anh em làm vũ khí chống trả. Số anh em khác thì dùng khăn, mền thấm nước và cơm mẻ để chống hơi cay. Cả Trại I đều hô la “đả đảo đàn áp, nhà cầm quyền phải thi hành Hiệp định Pa-ri”...

Một phát, hai phát, rồi hàng loạt lựu đạn cay, phi tiễn, lựu đạn lửa bắn vào. Tiểu đội xung kích chúng tôi đẩy anh em dạt vào bên trong để tránh mảnh lu, tạo một hành lang trống để chúng tôi ném trả địch. Chiến đấu trong hoàn cảnh khói đen mù mịt một hồi, ai cũng bị ngạt. Cộng với khói và hơi cay nồng nặc khắp phòng giam, rất nhiều người nôn mửa và gục xuống, nhiều người chịu không nổi phải lết lại gần cửa để lấy dưỡng khí. Hồi lâu, địch biết chúng tôi đã ngất xỉu nên cho bọn trật tự mang mặt nạ chống hơi cay xông vào lôi chúng tôi ra. Khi ra ngoài, tôi thấy mất đồng chí Trần Văn Hiếu nên chạy vào trong tìm. Thấy anh Hiếu nằm bất động (vốn có bệnh tim), tôi lôi anh ra và nhai vi-ta-min C nhổ vào miệng, thổi lỗ mũi “ép” anh ấy nuốt. Một lúc sau, anh Hiếu hồi tỉnh lại. Cũng cần nói thêm là thuốc men chúng tôi xin từ trạm xá và khoét lỗ chôn giấu trong tường, chỉ khi có tin đàn áp thì mới lấy ra sử dụng. Trong buổi sáng, địch tấn công hai phòng: Phòng 1 và Phòng 2. Đàn áp xong, chúng lập rất nhiều bàn để lăn tay, chụp hình. Nhiều tù nhân mặt mũi lấm lem, có đồng chí mặt còn dính cơm mẻ, dính máu nhưng chúng cứ vẫn để thế mà chụp hình. Số hình này sau đó chuyển đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam trong danh sách trao trả. Có lẽ khi xem lại dung nhan tù, chắc ai nấy sẽ không thể nhịn cười và nuốt ngược nước mắt vào trong.

Sau trận đó, tôi nằm trạm xá vì bị địch đá vào hạ sườn trái, tôi nằm gần giường chú Tám, nhà chú ở đường Võ Duy Nguy, gần Cầu Kiệu (nay là đường Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận). Chú Tám bị địch đá dập gan nên trong thời gian ở trạm xá, ngày nào bác sĩ cũng dùng ống tiêm lấy cả lít nước mầu vàng từ gan chú Tám. Khoảng bảy, tám ngày sau, chú Tám hy sinh. Còn hầu hết anh em tù chính trị sau này về đất liền đều thành thương binh, bệnh binh.

Chiều 23-7-1973, từ Trại I, địch đưa chúng tôi xuống tàu về đất liền để chuẩn bị cho việc trao trả. Chuyến tàu có 1.200 tù nhân (thuộc đợt trao trả 5.081 người) mà phía địch gọi là đợt chót. Thực tế, vẫn còn hàng nghìn tù nhân chính trị mà chúng giữ lại, nhất là số anh em câu lưu (tù chính trị không án tích). Về sau này, càng nghĩ tôi càng tâm đắc một cách sâu sắc lời đồng chí Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, rằng: “Làm cách mạng không ở tù là còn thiếu”. Trận đàn áp nơi “địa ngục trần gian” diễn ra ngày 30-4-1973, thì đúng hai năm sau đó, tức ngày 30-4-1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã kết liễu chế độ ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc.

NGUYỄN VĂN NỚP

Cựu tù Côn Đảo, nguyên Phó Chánh Thanh tra TP Hồ Chí Minh