Ngày càng phổ biến tình trạng người ta tìm cách thuyết phục sinh viên quốc tế, chủ yếu là những người đến từ các quốc gia đang phát triển và các nước thu nhập trung bình, ở lại làm việc sau khi tốt nghiệp. Nói một cách đơn giản, các nước giàu đang cướp đi chất xám của các nước đang phát triển hay đúng hơn là chất xám của bất kỳ nước nào mà họ có thể thu hút được.

Các nước giàu hiện đang lo ngại về tình trạng thiếu hụt nhân lực có kỹ năng để phục vụ nền kinh tế của mình, đặc biệt là ở trình độ cao. Có nhiều nguyên nhân, như “sụt giảm nhân khẩu” ở Nhật Bản và các nước châu Âu, làm giảm đáng kể số thanh niên ở độ tuổi học đại học, trong đó đáng lo ngại là thiếu sinh viên đăng ký vào các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, giảm số lượng người đi học và tốt nghiệp. Vậy đâu là giải pháp cho tình trạng này?

Thực tế cho thấy Mặc dù việc thất thoát chất xám luôn tồn tại trong giới học thuật trong vòng một thế kỷ nay, tình hình này ngày càng nghiêm trọng đối với tất cả các quốc gia.

Vì vậy, các nước đang phát triển cũng như các quốc gia mới nổi đang đứng trước nguy cơ bị tụt hậu trong nền kinh tế tri thức toàn cầu, và điều đó sẽ gây ra những thiệt hại dài hạn cho tương lai của họ.

Hiện trạng

Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, nếu nói rằng đang có những quốc gia áp dụng các chính sách nhằm chủ ý gây ra sự thất thoát chất xám của các nước khác thì có lẽ cũng không phải là quá cường điệu. Thực tế hiện nay tỷ lệ ở lại không về nước của du học sinh đã khá cao.

Chẳng hạn, trong vòng gần nửa thế kỷ qua, có đến hơn 80% du học sinh Trung Quốc và Ấn Độ tốt nghiệp tại các đại học của Hoa Kỳ đã không trở về nước. Không hề quá lời nếu ta nói rằng phần lớn thung lũng Silicon Valley đã được xây dựng bằng chất xám của Ấn Độ. Kết quả khảo sát gần đây của Quỹ khoa học quốc gia Hoa Kỳ (National Science Foundation) cho thấy phần lớn người nhận bằng tiến sĩ từ các quốc gia đang phát triển đều có kế hoạch ở lại Mỹ và đóng góp vào nguồn nhân lực học thuật của nước này, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Tuy chúng ta không có nhiều dữ liệu, nhưng hầu như chắc chắn rằng các quốc gia châu Âu và Australia cũng đang có khuynh hướng tương tự. Tuy nhiên, xét trên phạm vi toàn cầu thì tỷ lệ trở về của các du học sinh đang tăng lên chút ít trong bối cảnh kinh tế của các quốc gia đang phát triển được cải thiện, trong khi một số các nước giàu vẫn còn sa lầy trong suy thoái kinh tế.

Trợ cấp của người nghèo cho người giàu

Các quốc gia đang phát triển và các nước mới nổi đang thực sự đóng góp đáng kể cho các hệ thống học thuật của các nước giàu. Sinh viên quốc tế đang đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của châu Âu, Bắc Mỹ và Úc ngay cả khi họ còn đang học và khi ở lại sau tốt nghiệp. Dữ liệu từ năm 2011 cho thấy số lượng 764.000 sinh viên quốc tế học tập tại Hoa Kỳ đã đóng góp hơn 22 tỉ USD hằng năm cho nền kinh tế nước này. Các quốc gia xuất khẩu giáo dục lớn khác cũng có số liệu tương tự. Quả thật, cả Australia, nơi thu được 17 tỷ USD hằng năm, và Vương quốc Anh, nơi thu được 21 tỷ USD hằng năm từ sinh viên quốc tế, đều có những chính sách được khẳng định rõ ràng nhằm gia tăng thu nhập từ sinh viên nước ngoài.

Nhưng điều đáng nói hơn chính là sự đóng góp của các nước mới nổi và các nước đang phát triển cho các nước giàu, thông qua việc các nghiên cứu sinh ở lại sau khi tốt nghiệp và tham gia vào nguồn nhân lực học thuật của các nước giàu. Dưới đây chúng tôi sẽ nêu những ví dụ từ Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia “xuất khẩu chất xám” lớn nhất thế giới. Cần lưu ý rằng các số thống kê chỉ có tính gợi ý vì số liệu chưa đầy đủ và được thu thập tại các thời điểm khác nhau.

Trong năm 2012, có đến 100.000 sinh viên Ấn Độ đến học tại Hoa Kỳ, chủ yếu ở trình độ sau cử nhân. Đại đa số những sinh viên này đều ở lại sau khi tốt nghiệp, trong đó nhiều người trở thành giảng viên tại nước họ theo học. Theo số liệu thống kê của UNESCO, có thể ước tính sơ khởi rằng để giáo dục một trẻ em từ tiểu học lên đến hết trình độ cử nhân thì mỗi người dân Ấn Độ phải đóng khoảng 7.600 USD tiền thuế - tính theo sức mua tương đương (PPP). Số tiền mỗi gia đình người Ấn phải bỏ ra cho việc giáo dục con cái cũng tốn khoảng tương đương như thế - đặc biệt là vì có khá nhiều học sinh theo học tại các trường tư nói tiếng Anh của nước ngoài hoạt động tại Ấn Độ, tức là số tiền tổng cộng ước tính lên đến 15.000 USD cho một thanh niên. Như vậy, số tiền đầu tư ước tính của Ấn Độ vào nước Mỹ, thông qua việc giáo dục 100.000 thanh niên đến trình độ cử nhân trước khi đi du học, là khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm.

Các số liệu tương tự từ Trung Quốc thậm chí có thể còn cao hơn. Mặc dù các số liệu về chi tiêu công cho giáo dục không sẵn có, nhưng các nghiên cứu cho thấy một gia đình Trung Quốc bình quân đầu tư khoảng 39,000 USD tính theo sức mua tương đương PPP cho việc giáo dục một học sinh từ tiểu học đến hết cử nhân. Riêng năm 2012 đã có đến 194.000 sinh viên Trung Quốc du học tại Hoa Kỳ. Như vậy có thể ước tính rằng người Trung Quốc đã đầu tư khoảng 7,6 tỷ USD vào tiềm năng chất xám tại nước Mỹ. Chưa kể còn có một nguồn kinh phí đáng kể khác từ nhà nước Trung Quốc cho người đi học ở nước ngoài, mặc dù không có số liệu chính xác.

Ngoài chi phí đóng góp trực tiếp của sinh viên quốc tế, các nước chủ nhà còn được hưởng một nguồn lợi khổng lồ từ nguồn vốn tri thức của những bộ óc xuất sắc nhất đến từ những nước đang phát triển. Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển phải chịu thiệt hại nặng nề, đặc biệt là giới hàn lâm do không thu hút được người tài có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực, về làm nghiên cứu, giảng dạy và đóng góp các ý tưởng đổi mới sáng tạo cho đất nước.

Chiến lược của các nước giàu

Hai nhà nghiên cứu giáo dục đại học là Hans de Wit và Nannette Ripmeester đã cung cấp một bản tóm tắt tuyệt vời về một số chính sách nhằm tăng cường “tỷ lệ giữ chân” thông qua việc thay đổi những chính sách nhập cư, cung cấp học bổng, và liên kết chặt chẽ hơn giữa các trường đại học và người sử dụng lao động, và những chính sách khác (theo Bản tin giáo dục đại học thế giới, ngày 17 tháng 2 năm 2013). Ở cả châu Âu và Bắc Mỹ, đều có những sáng kiến nhằm lôi kéo các nhà chuyên môn xuất sắc nhất vốn là du học sinh từ các nước khác, ở lại và tham gia lực lượng lao động của mình. Các nước này đang thực hiện nhiều nỗ lực như nới rộng quy định thị thực, tạo điều kiện có việc làm, cho phép làm thêm trong thời gian học, công nhận bằng cấp dễ dàng hơn, cải thiện sự hợp tác giữa các trường đại học, chính phủ và các ngành công nghiệp, cùng nhiều sáng kiến khác.

Các quốc gia như Anh và Úc, trong những năm gần đây vốn áp dụng những quy định khá chặt chẽ về di trú, cũng đang xem xét lại các chính sách của mình. Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ cũng như các trường đại học đang chủ trương tự nới rộng chế độ thị thực để tạo điều kiện cho các du học sinh sau khi tốt nghiệp có thể ở lại và làm việc tại Hoa Kỳ. Trong khi đó, chẳng ai chỉ ra sự mâu thuẫn giữa một bên là Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển giáo dục tại các nước mới nổi, và bên kia là các chính sách nhằm thu hút nguồn chất xám tốt nhất từ các quốc gia đang phát triển của các nước giàu.

Một số nước châu Phi như Nam Phi và Botswana, vốn có hệ thống giáo dục đại học tương đối phát triển và mức lương khá hấp dẫn, cũng cố gắng thu hút tài năng từ các nước châu Phi khác. Không những thế, tình trạng thất thoát chất xám còn diễn ra giữa các cường quốc khoa học. Chẳng hạn, nước Đức đã phải rất nỗ lực để thu hút những nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) đang làm việc tại Hoa Kỳ trở về nước, nhưng không đạt được mấy thành công. Đối với những người này, một sự nghiệp khoa học ổn định và mức lương cao hơn đôi chút ở Mỹ vẫn hấp dẫn hơn.

Sự phức tạp của thế giới toàn cầu

Một khi vị trí địa lý vẫn còn quan trọng và thế giới vẫn chưa phẳng khi xét theo sức mạnh khoa học của các quốc gia, thì toàn cầu hóa rõ ràng là có tác động đáng kể vào các trường đại học và các hệ thống giáo dục trên toàn thế giới. Mạng Internet đã khiến việc giao tiếp và cộng tác dễ dàng hơn. Tỷ lệ nghiên cứu và công bố do các nhà khoa học từ nhiều quốc gia đồng thực hiện đã tăng lên đáng kể ở tầng trên cùng của hệ thống. Giáo dục từ xa, các chương trình đào tạo liên kết, và các chi nhánh trường quốc tế là một khía cạnh khác của thế giới học thuật toàn cầu hóa. Tuy nhiên, tất cả những ích lợi này vẫn không bù lại được những thiệt hại về thất thoát nhân lực.

Trung Quốc, một quốc gia với số lượng lớn các học giả làm việc ở nước ngoài, đã xây dựng một số chương trình để thu hút các nhà nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trở về nước. Việc cho phép bổ nhiệm song song tại hai quốc gia cũng đã được áp dụng trong một số lĩnh vực then chốt để các trường đại học Trung Quốc có thể thu hút được các học giả hàng đầu vẫn muốn ở lại nước ngoài. Các quốc gia đang phát triển và thu nhập trung bình khác cũng tìm cách tận dụng cộng đồng khoa học kiều bào thông qua khuyến khích các dự án nghiên cứu hợp tác, thu hút đầu tư, tài trợ cho các tổ chức khoa học, và những công việc khác. Các chương trình thành công ít ra cũng đảm bảo được những tài năng ở trong nước có thể tận dụng được kinh nghiệm chuyên môn từ đồng bào sống ở nước ngoài. Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Scotland, đều đã có những chương trình như vậy.

Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp như vậy, phần lợi lớn vẫn thuộc về những trung tâm khoa học lớn của thế giới vì những lý do hiển nhiên. Hơn nữa, vị trí địa lý rõ ràng là rất quan trọng: dù sao thì việc sinh hoạt thường xuyên trong một cộng đồng khoa học ở nước sở tại vẫn chi phối nhà khoa học hơn so với sự liên lạc qua Internet hoặc những kỳ nghỉ phép hoặc nghỉ hè tại nước ngoài. Chưa kể đến những yếu tố khác, một sự nghiệp khoa học ổn định, mức lương hấp dẫn, tự do học thuật, khả năng tiếp cận không hạn chế đến những ý tưởng khoa học và các tư tưởng mới nhất ở các trung tâm khoa học lớn cũng đã đủ sức hấp dẫn lớn đối với các nhà khoa học từ nước ngoài. Sự thực là các chương trình thu hút các nhà khoa học trở về nước cũng như các nỗ lực hạn chế việc thất thoát chất xám của cộng đồng khoa học trong nước thường không mấy thành công. Vì chỉ khi nào các trường đại học tại một nước đang phát triển có được nền văn hóa học tập và cơ sở vật chất mà các học giả hàng đầu mong đợi, bao gồm cả tự do học thuật, tiếp cận thông tin không hạn chế, và phòng thí nghiệm tối tân, thì họ mới có thể hy vọng sẽ thu hút và giữ chân những tài năng khoa học hàng đầu trong nước.

Công lý trong học thuật?

Các quốc gia “siêu cường học thuật” liệu có trách nhiệm gì đối với các hệ thống học thuật của các nước đang phát triển hay không? Hiện nay chẳng có ai nhắc đến trách nhiệm của các nước giàu trong việc khuyến khích những người tốt nghiệp tiến sĩ từ các nước đang phát triển trở về nước để xây dựng các trường đại học, và cải thiện chất lượng của hệ thống khoa học còn non trẻ của các nước này. Ngược lại, người ta chỉ quan tâm đến việc làm sao cải thiện “tỷ lệ giữ chân” và nới rộng luật di trú để thu hút tối đa tài năng từ các nước đang phát triển sang các nước giàu. Trong bối cảnh Liên Hiệp Quốc đã đề ra Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ, chúng ta có nên đặt vấn đề các nước giàu cần ít nhất phải hoàn lại cho các nước nghèo những chi phí phát sinh do các du học sinh của nước họ không trở về nước hay không? Có nhiều cách để ít nhiều cải thiện tình hình hiện nay, ví dụ, như cung cấp các chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết nhằm tạo điều kiện cho các học giả trẻ của các nước đang phát triển có cơ hội học tập ở nước ngoài trong quá trình học tiến sĩ nhưng vẫn giữ mối liên kết với trường đại học của mình, đồng thời phát triển năng lực nghiên cứu. Ít ra, bằng cách này thì các nước đang phát triển cũng không còn phải trực tiếp tài trợ cho các hệ thống khoa học của những nước giàu như tình trạng hiện nay.

Anh Khôi lược dịch

Nguồn:

INTERNATIONAL HIGHER EDUCATION, Number 72. Summer 2013. Trang 2-4