Ngày 30/7/2012, Công ty cổ phần A ký hợp đồng “Hợp tác kinh doanh” về quyền đầu tư kinh doanh toàn bộ các hoạt động dịch vụ thương mại của một khách sạn tọa lạc tại huyện V (tỉnh N) do Công ty cổ phần B là chủ sở hữu. Thời hạn thực hiện hợp đồng: 20 năm.

Thuoc tham quyen cua TAND huyen! - Anh 1

Ảnh minh họa

Tuy nhiên, chỉ sau 3 năm thực hiện hợp đồng, ngày 02/7/2015, tranh chấp giữa 2 bên đã xảy ra; Công ty cổ phần B khởi kiện Công ty cổ phần A. Căn cứ quyết định “áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” của tòa án huyện, Công ty cổ phần B đã tiến hành cưỡng chế, tước đoạt quyền kinh doanh các hoạt động dịch vụ thương mại của Công ty cổ phần A.

Ông Nguyễn Văn H, Giám đốc Công ty cổ phần A thắc mắc và đề nghị Tòa soạn tư vấn pháp luật:

– Hợp đồng kinh tế do 2 bên thỏa thuận có mức tiền đầu tư 37 tỷ đồng, trong đó nêu rõ: Trường hợp có tranh chấp mà thương lượng không thành thì sẽ đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế – Tòa án nhân dân tỉnh, nhưng Tòa án huyện V lại thụ lý vụ kiện: Đúng hay sai?

– Thẩm phán chưa mời chúng tôi lên để hòa giải, đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Luật có cho phép làm thế không?

Ý KIẾN TƯ VẤN:

Thỏa thuận chọn tòa kinh tế TAND tỉnh giải quyết khi xảy ra tranh chấp thể hiện mong muốn của 2 bên khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, thỏa thuận cần phải phù hợp quy định của pháp luật. Công ty cổ phần B khởi kiện Công ty cổ phần A ra tòa án huyện V là đúng quy định tại mục b khoản 1 Điều 33 Bộ Luật Tố tụng dân sự: Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ Luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện theo thủ tục sơ thẩm (khoản 1 Điều 29: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: A/ Mua bán hàng hóa; B/ Cung ứng dịch vụ;…). Về tình tiết “hợp đồng kinh tế do 2 bên thỏa thuận có mức tiền đầu tư 37 tỷ đồng”: Pháp luật không quy định thẩm quyền của Tòa án cấp huyện giải quyết vụ kiện bị “giới hạn” bởi mức tiền đầu tư trong hợp đồng tranh chấp.
Tại khoản 2 Điều 34, Bộ Luật Tố tụng DS cũng quy định: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 33 của Bộ luật này mà Tòa án, nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết”.

Như vậy, có thể hiểu, TAND tỉnh N cũng có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự này nhưng phải “lấy lên” từ TAND huyện V để giải quyết, chứ TAND tỉnh không có thẩm quyền trực tiếp nhận ngay từ ban đầu để thụ lý vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Để vụ án dân sự này được “lấy lên” giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, Công ty cổ phần A có thể gửi đơn đề nghị TAND tỉnh xem xét, quyết định.

Pháp luật không quy định Tòa án phải tiến hành “hòa giải xong” thì mới được “áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Thậm chí, tại khoản 2 Điều 99, Bộ Luật Tố tụng dân sự còn quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho tòa án đó”.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 101 Bộ Luật Tố tụng dân sự đã quy định một cách chặt chẽ:

“Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

A) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
B) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu;
C) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Luật gia, nhà báo Nguyễn Chấn