Chiếc thuyền thúng tre nhỏ bé dần bị ngư dân loại khỏi “cuộc chơi với biển cả”, thay thế bằng những tàu lớn, thuyền thúng nhựa. Nhưng như những lão ngư vững tay chèo trong cơn sóng dữ, thuyền thúng tre tại Đà Nẵng của ông Phan Liêm đã và đang bơi ra quốc tế.

Thuyền thúng có chức năng đánh bắt gần bờ, khoảng 2-3 km, hoặc thường được mang theo tàu lớn. Gần đây, thuyền thúng được sử dụng làm phương tiện phục vụ du lịch để khách câu mực đêm. Năm 2013, hàng trăm chiếc thuyền thúng tre đã được khách du lịch Úc, Nhật, Philippin,….đặt ông Phan Liên để mang về nước làm du lịch. Đây là tín hiệu đáng mừng đối với nghề làm thuyền thúng nói riêng và việc bảo tồn một nét văn hóa biển nói chung.

Công phu nghề làm thuyền

Hàng chục chiếc thuyền thúng mơ màng gối cát dọc bờ biển Mỹ Khê (Đà Nẵng) - một trong sáu bãi biển đẹp nhất hành tinh không khỏi khiến tôi thẫn thờ đến nao lòng. Còn gì hơn ở thành phố yên bình này, đêm đêm tao nhã ngồi thuyền thúng ngắm biển, rồi reo lên như một đứa trẻ với thú câu mực.

Sáng, tận hưởng không khí trong lành của biển, như kẻ trần tục lạc vào cõi tiên khi bắt gặp cảnh lão ngư giăng lưới dưới bình minh. Con thuyền thúng nhỏ bé chòng chành trước từng cơn sóng biển nhưng vẻ mặt lão vẫn bình thản như không. Người ta bảo, thuyền thúng là sự kết hợp kỳ diệu nhất của miền núi và miền biển, lấy nhu là sự mềm dẻo của cây tre trị cương là những con sóng biển mạnh mẽ. Đó là nét văn hóa đặc trưng của miền biển nhưng cũng thể hiện sự đoàn kết giữa các miền trên đất nước này. Bởi thế, cũng như các địa phương khác, tại làng biển Thọ Quang (Sơn Trà, Đà Nẵng), làm thuyền thúng là một trong những nghề truyền thống.

Dù đã gần 70 tuổi nhưng ông Liên vẫn miệt mài làm thuyền thúng.

Gần 70 tuổi nhưng ông Phan Liên (tổ 22A, phường Thọ Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng) đã gắn bó với nghề làm thuyền thúng hơn 50 năm. Người đàn ông này, cả một đời thấm đẫm vị mặn mòi của biển, ánh mắt vẫn vương nét ngây thơ của cậu bé 14 tuổi khi mới theo cha học nghề: “Nhìn chiếc thuyền thúng giản đơn như thế nhưng công đoạn làm thuyền không hề dễ dàng đâu. Những ngày đầu tôi chỉ gọt tinh tre (vỏ xanh bên ngoài) cho tay quen với dụng cụ, sau đó mới học ra tre, chẻ nan, vót nan, đan, lận thúng cho tròn,…Phải có tay nghề giỏi mới làm được công đoạn lận thúng vì nếu không thúng sẽ không được tròn. Và phải cần người có sức khỏe để dùng kít kéo sát vành thúng và các nan đan lại vào nhau. Tôi còn nhớ như in đôi cánh tay trần của cha bóng nhẫy mồ hôi, căng lên để xiết cước cho chặt đấy".

Điểm “dị” và cần thiết nhất khi làm thuyền thúng là chét phân bò đều đặn lên thuyền. Phân bò phải pha với nước theo tỷ lệ hợp lý để không quá khô, không quá nhão. Phân bò khô khi xuống nước sẽ nở ra, trám hết các lỗ hở giữa các nan tre. Nếu không có phân bò thì nước sẽ ngấm vào trong, dù có dùng keo gì thay thế cũng không được. Ông bảo: “Ngày xưa đi xin thứ này dễ lắm, giờ phải về tận quê đặt mới có. Chứ kiếm đâu ra giữa đất thành phố văn minh này, mà đến nông thôn bây giờ cũng ít nhà nuôi bò nữa”. Sau khi chét phân bò thì đem phơi khô, rồi quét dầu ráy 2-3 lần cả mặt trong và mặt ngoài thúng và lại phơi nắng.

Khâu chọn mua tre cũng phải kỹ càng, chọn tre miền núi để có độ dẻo sai cao, và tuổi đời của tre phải từ 1,5 năm trở lên. Mỗi chiếc thuyền nhỏ đường kính 1,4m có giá 1,6 triệu nhưng phải cần tới 10 cây tre.

Hơn 50 năm trước, làng biển này có tới 4-5 hộ làm thuyền thúng mà mỗi hộ cũng cả chục người. Cứ 3h sáng, đèn các nhà nghề sáng lung linh trên nền biển, lục đục vót, chẻ, đan,.. vui như hội. Mới đó mà cả làng giờ chỉ còn 2 hộ làm thuyền vì đám thanh niên nói nghề này vừa đau lưng vừa thu nhập thấp. Nhưng nhà ông Liên đã có bốn đời làm nghề và cháu nội ông hiện mới 15 tuổi cũng nhất định theo cha học nghề. Anh Phan Văn Minh (43 tuổi) là con trai cả ông Liên nói: “Hồi xưa, người ta đặt làm nhiều lắm, giờ thì hên xui, hồi 6-7 triệu/ tháng, hồi ở không và mùa mưa thì chơi dài vì không phơi nắng được. Cực vậy mà mấy đứa nhỏ nhà tôi vẫn ham làm. Chúng bảo làm tới khi nào người ta không cần thuyền thúng thì thôi”.

Các con cháu ông sẽ làm thuyền thúng đến khi nào người ta không cần thuyền thúng thì thôi.

Sẽ có “một góc Việt” ở nhiều nơi trên thế giới

Tuổi đời của thuyền thúng tre xưa kia chỉ 5-7 năm nhưng nay nhờ sơn hóa học đã kéo dài được 15 năm. Tuy vậy khi gặp sự cố, thúng bị thủng thì việc vá còn khó hơn cả làm một chiếc thúng mới. Bởi thế, ngư dân Việt giờ không còn ưa thích dùng thuyền thúng truyền thống mà chuyển qua dùng thuyền nhựa.

Trong cái nắng biển chói chang, đầu đội mê nón, tay thoăn thoắt chẻ nan, ông Liên nói: “Chừ nghề ni thất nghiệp rồi cô ơi, thỉnh thoảng nước ngoài họ đến thì họ mê lắm nên mình có việc”.

Năm 2013, có một đoàn khách du lịch ở Úc đi dạo, vô tình thấy cha con ông Liên làm thuyền thúng và họ chợt nẩy ra ý định mang thuyền thúng Việt Nam về nước họ kinh doanh du lịch. Ông Liên còn nhớ như in người phiên dịch nói với ông rằng: “Họ muốn tạo nên “một góc Việt trong lòng nước Úc”. Ông bảo, thế thì hay quá, người Việt mình đi xa quê, nhìn chiếc thuyền thúng này cho bớt nhớ quê và biết rằng bản sắc văn hóa vẫn còn đó. Hồi ấy, người Úc đặt mười mấy chiếc thuyền, xong rồi cả nhà đóng thùng cho họ mang về nước luôn. Đó là mẻ xuất ngoại đầu tiên của thuyền thúng Việt nhưng ông Liên vẫn thật thà nghĩ rằng: “Người ta thấy hay hay thì mua về thôi chứ không biết có ích thật không. Mình nhận mẻ hàng ấy cũng chỉ là mèo vớ cá rán chứ biết bao giờ mới có”.

Nhưng quả thật, người không phụ nghề thì nghề không bao giờ phụ người. Sau đoàn khách du lịch Úc với hơn chục chiếc thuyền là Philippin 30 chiếc, Nhật Bản 20 chiếc, và có khi chỉ là niềm vui nho nhỏ khi người Pháp, Anh, Tây Ban Nha,…nhất định mang chiếc thuyền thúng to đùng về nước họ để làm “quà lưu niệm”.

Vén chiếc áo xanh đã bạc màu nắng lau mồ hôi, những nếp nhăn thi nhau xô lại tỏa ra nụ cười lạc quan trên khuôn mặt, ông Liên vẫn chưa hết bất ngờ: “Mình không dám nghĩ là họ thích thuyền thúng đến thế. Bởi như Nhật hay các nước khác, người ta có công nghệ hiện đại thì cần gì đến thuyền thúng đơn sơ của mình. Ấy vậy mà họ mê lắm, về nước rồi vẫn gọi sang cảm ơn vì khách du lịch ở nước họ rất thích thú”

Biết đâu rằng, trên thế giới, đã có tour “một ngày làm ngư dân Việt trên đất Úc, Nhật, Tây Ban Nha,…”. Nhìn ánh mắt vui vẻ của ông Liên, tôi tin rằng rồi đây thuyền thúng Việt sẽ vượt trùng khơi, mạnh mẽ bơi ra “biển cả” quốc tế.

Hồng Thúy