(TBKTSG) - Bài viết này dựa trên quan sát và ghi chép của tác giả thu được qua một số cuộc viếng thăm các cơ quan Việt Nam và Mỹ thường trú tại Việt Nam gần đây, nhằm cung cấp một số quan điểm khác nhau về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ hai phía để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện hơn về Hiệp định TPP. TBKTSG xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Phan Minh Ngọc

Đóng gói áo jacket xuất khẩu. Dệt may là lĩnh vực gây trở ngại trong đàm phán TPP Việt-Mỹ. Ảnh: Kinh Luân.

(TBKTSG) - Bài viết này dựa trên quan sát và ghi chép của tác giả thu được qua một số cuộc viếng thăm các cơ quan Việt Nam và Mỹ thường trú tại Việt Nam gần đây, nhằm cung cấp một số quan điểm khác nhau về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ hai phía để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện hơn về Hiệp định TPP. TBKTSG xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

TPP đang được đàm phán bởi 12 nước thành viên (với Nhật mới tham gia từ vòng đàm phán thứ 18) ở hai bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có Mỹ và Việt Nam. Trải qua 18 vòng đàm phán, TPP được kỳ vọng sẽ được thông qua bởi các nước thành viên vào tháng 10 năm nay.

Nhìn từ phía Việt Nam, một quan điểm phổ biến là Mỹ cần Việt Nam và tìm cách lôi kéo Việt Nam vào cuộc chơi TPP mà Mỹ cầm trịch (không có Trung Quốc và nước này cũng không được Mỹ mời vào TPP). Vào TPP, Mỹ hy vọng Việt Nam sẽ thành một nước có thế và lực mạnh hơn với kinh tế phát triển nhờ TPP để thoát khỏi vòng ảnh hưởng cũng như kìm hãm sự lan tỏa ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực, cốt có lợi cho Mỹ. Đổi lại, Mỹ sẽ thỏa hiệp với Việt Nam trong một số lĩnh vực kinh tế và xã hội, như mở cửa thị trường Mỹ cho hàng xuất khẩu của Việt Nam...

Tuy nhiên, phía Việt Nam vẫn giữ một con mắt nghi ngờ, quan ngại với lập trường được cho là “tiêu chuẩn kép” của Mỹ. Theo đó, một mặt Mỹ muốn buộc các nước thành viên khác mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ thâm nhập nhưng mặt khác, Mỹ lại tìm cách gây khó dễ, đóng cửa với hàng hóa và dịch vụ của các nước thành viên đối tác của mình, đặc biệt là một nước đang phát triển như Việt Nam. Những biện pháp gây trở ngại này của Mỹ thường sẽ là quy tắc xuất xứ sợi (yarn forward), danh sách loại trừ, những vấn đề liên quan đến nhân quyền, công đoàn, môi trường, tôn giáo và chuyển giao công nghệ, và một số cản trở phi thuế quan khác. Nhận định này đã xuất hiện trong các vòng đàm phán của Mỹ với Việt Nam và là một trong những trở ngại chính cho việc sớm đi đến thỏa thuận.

Ngược lại, theo quan điểm của phía Mỹ thì thực ra mức độ quan tâm của Mỹ đến Việt Nam không lớn. Đúng là Mỹ có ý muốn Việt Nam tham gia TPP nhưng điều này chỉ đơn thuần là vì Mỹ muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển ổn định về chính trị và kinh tế. Thậm chí họ còn cho rằng nếu Mỹ buông Việt Nam thì Trung Quốc cũng chẳng thu được lợi ích đáng kể.

Sự quan tâm của Mỹ đến Việt Nam càng giảm với sự tham gia của Nhật Bản vì Nhật Bản là một đối tác kinh tế lớn của Mỹ và giữa hai nước chưa có hiệp định tự do thương mại song phương (TPP cũng đóng vai trò như một hiệp định tự do thương mại song phương). Vì thế Mỹ phải tập trung nỗ lực hơn vào cuộc đàm phán với Nhật thay vì Việt Nam. Nội dung và thỏa thuận đàm phán với Nhật cũng sẽ là tiêu chuẩn để Mỹ áp dụng trong đàm phán với Việt Nam nên cuộc đàm phán Việt - Mỹ sẽ càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn, và cũng như vậy là tương lai gia nhập TPP của Việt Nam.

Một điểm đáng lưu ý là Chính phủ Mỹ không có nhiều quyền kiểm soát trong các thỏa thuận TPP với Việt Nam như với Hiệp định Tự do thương mại song phương Việt - Mỹ, không chỉ vì TPP còn phải trình Quốc hội Mỹ - nơi bị chi phối nặng nề bởi các nhóm lợi ích (trong đó có các công ty dệt may) và các lực lượng chính trị - phê chuẩn, mà còn vì Chính phủ Mỹ phải tôn trọng các hiệp định tự do thương mại song phương với các nước khác như Mexico và Peru, sao cho tiêu chuẩn của các thỏa thuận với Việt Nam không thấp hơn tiêu chuẩn ký kết với các nước này hoặc làm tổn hại đến họ.

Phía Mỹ còn cho rằng phía Việt Nam có quá nhiều đòi hỏi làm cho phía Mỹ ngán ngẩm, vì Việt Nam coi TPP cũng là một thỏa thuận song phương, mà thực ra không phải là vậy. Nguyên nhân, theo phía Mỹ, có thể là sự thiếu hiểu biết về bản chất TPP của phía Việt Nam.

Thêm một thực tế là Cơ quan đại diện thương mại Mỹ đã có một người lãnh đạo mới và vị này ít thông cảm với Việt Nam, thay vào đó lại rất có cảm tình với Nhật Bản. Ngoài ra, cơ quan này cũng đang phải đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Đại Tây Dương (TAP) nên sự quan tâm cho cuộc đàm phán với Việt Nam càng trở nên ít đi. Mỹ cũng khó mà thỏa hiệp được với Việt Nam về điều khoản quan trọng nhất trong TPP là quy định yarn forward để tránh xâm hại đến quyền lợi của các đối tác của Mỹ ở châu Âu, châu Phi và Trung Đông trong một chuỗi cung ứng sản phẩm tạo ra nhiều triệu công ăn việc làm trong ngành dệt may.

Tóm lại, giữa hai bên đã có sự khác biệt khá lớn về quan điểm và nhận định cũng như các mối quan tâm. Cộng thêm với sự ràng buộc chính trị và xã hội trong nước, các bất đồng và cả nghi kị, cộng với sự gia nhập mới đây của Nhật đã làm cho quá trình đàm phán TPP trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Vì thế, nhiều nhà quan sát nghi ngờ khả năng cán đích hoàn tất đàm phán tháng 10 tới đây, mặc dù các nhà lãnh đạo khẳng định quyết tâm về đích đúng hạn.