(Chinhphu.vn) - Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật về việc lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước sẽ được áp dụng cho việc bảo vệ và phân bổ tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới đất, quy hoạch phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra và nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông.

Tài nguyên nước được lập quy hoạch theo một định mức chung từ ngày 20/11/2009 - Ảnh minh họa Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật về việc lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại Thông tư 15/2009/TT-BTNMT. Theo bà Phùng Thị Châm, Viện Chiến lược chính sách Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam có khoảng 2360 con sông, chiều dài trên 10km, trong đó có 9 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực trên 10.000km2. Tổng lượng nước hàng năm chảy qua các sông, suối tới 835 tỷ m3, trong đó có 313 tỷ m3 sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam còn lại 522 tỷ m3 từ lãnh thổ các nước ngoài chảy vào nước ta. Tài nguyên nước dưới đất có trữ lượng động thiên nhiên toàn lãnh thổ khoảng 1500m3/s. Nguồn tài nguyên nước tính theo đầu người ở nước ta hiện nay vào loại trung bình thấp so với thế giới và đang tiếp tục bị suy giảm do dân số tăng nhanh. Hơn nữa, vấn đề suy thoái tài nguyên nước lưu vực sông diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Suy thoái tài nguyên nước trên lưu vực sông được biểu hiện ở sự giảm sút về số lượng và đặc biệt là chất lượng. Bởi vậy định mức lập quy hoạch tài nguyên nước ra đời sẽ là căn cứ để xây dựng đơn giá, dự toán thống nhất cho việc lập quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước cho một lưu vực sông, một vùng lãnh thổ hoặc một đơn vị hành chính trong cả nước. Theo Thông tư 15, các thành phần được tính trong định mức kinh tế- kỹ thuật gồm: định mức lao động, định mức sử dụng vật liệu xây dựng, các thao tác thực hiện công việc; điều kiện áp dụng và hệ số điều chỉnh; định biên lao động… Đồng thời để tiện cho việc tính định mức, thông tư đã chia các điều kiện của địa chất thủy văn thành 3 cấp độ: đơn giản, trung bình và phức tạp. Theo đó cách tính định mức lập quy hoạch vùng tài nguyên nước gồm 9 bước: thu thập dữ liệu, điều tra thực địa, xử lý dữ liệu, phân tích đánh giá hiện trạng, dự báo biến động của tài nguyên nước, xây dựng và lựa chọn phương án, giải pháp thực hiện, lập hồ sơ và hoàn chỉnh hồ sơ đồ án quy hoạch. Hồ sơ hoàn thiện của đồ án bao gồm các báo cáo (báo cáo tổng hợp, báo cáo chuyên đề, báo cáo đánh giá), các loại bản đồ, tổng hợp ý kiến của chuyên gia, tờ trình phê duyệt quy hoạch và quyết định phê duyệt. Như Hoa (Nguồn: Thông tư 15/2009/TT-BTNMT)