Câu chuyện diễn ra vào dịp giáp Tết Nguyên Đán năm 2004, GS Bình tiếp nhận điều trị cho ba thành viên trong gia đình thầy giáo trẻ dạy THCS ở ngoại thành Hà Nội. Thầy giáo này trước hôm cưới vợ hai ngày đã giết con gà rù đem bỏ tủ lạnh chờ đến đám cưới để ăn. Sau đám cưới bốn hôm, ba anh em nhập viện với những biểu hiện như sốt cao, hôn mê nhưng các bệnh viện đều không chẩn đoán ra bệnh. Bộ Y tế rồi tổ chức WHO sau đó vào cuộc, mời chuyên gia từ Hồng Kông sang hội chẩn, kết luận 3 người bị cúm A H5N1: “Chúng tôi cho thở máy, bơm ôxy nhưng không hữu ích. Lượng ôxy trong máu cứ thế tụt giảm. Chỉ trong mười ngày, ba anh em khỏe mạnh lần lượt tử vong. Nhìn họ chết trước mắt, tôi bị ám ảnh, thôi thúc phải tìm ra cách gì đó cứu các bệnh nhân khác”, GS Bình kể.

Tu vu ngo doc kinh hoang den cong trinh y hoc dat Giai thuong Nha nuoc - Anh 1

GS Bình cho hay sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm để kĩ thuật lọc máu được ứng dụng phổ biến hơn nữa.

Hòa nhã và khiêm tốn, đó là những ấn tượng ban đầu chúng tôi cảm nhận trong buổi trò chuyện với GS.TS.BS Nguyễn Gia Bình, Trưởng khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai.

Ông khiêm tốn nói về cảm xúc sau khi biết tin công trình y học “Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật lọc máu hiện đại trong hồi sức cấp cứu bệnh nhân nặng và ứng phó một số dịch bệnh nguy hiểm” do ông và các cộng sự thực hiện là công trình duy nhất trong lĩnh vực y, dược vừa đạt Giải thưởng Nhà nước về KHCN năm 2016: “Chúng tôi làm đề tài chỉ muốn giúp bệnh nhân, mong muốn kĩ thuật được ứng dụng rộng rãi, chứ không nghĩ tới chuyện nhận giải thưởng”.

Nỗi trăn trở của vị bác sĩ tâm huyết

Hiện kĩ thuật lọc máu đã trở thành kĩ thuật phổ thông hiện đang được ứng dụng rộng rãi tại nhiều cơ sở y tế trên toàn quốc. Nhưng ít ai biết rằng công trình này được thai nghén, hoàn thành chỉ hơn 10 năm trong hoàn cảnh như lời GS Bình nói “tay không bắt giặc” với “ba không”: Không tài liệu, không máy móc và không kinh phí.

Quả thận như máy lọc của cơ thể đào thải các độc tố ra ngoài, khi “chiếc máy” này này gặp “trục trặc” dẫn đến các bệnh lý phát sinh. Từ những năm 1980 - 1990, người ta nhận thấy có sự liên quan giữa tác nhân gây bệnh và phản ứng cơ thể.

Đồng thời các bác sĩ tìm ra quy luật mất cân bằng giữa quá trình viêm và chống viêm trong cơ thể khi mắc bệnh. Các tế bào trong cơ thể có thể bị chết một cách nhanh chóng hoặc hoại tử theo chương trình.

Trong khi đó y học chỉ can thiệp điều trị các bệnh lý khi có triệu chứng rõ rệt. Bởi vậy nhiều ý kiến đặt ra tại sao không can thiệp sớm hơn ở mức độ tế bào. Nói dễ hiểu là loại bỏ những tế bào mang bệnh càng sớm càng tốt. Nhưng cơ thể có hàng triệu tế bào nên rất khó sàng lọc, loại bỏ: “Lúc này người ta lại nhận thấy tất cả các chất đều lưu thông qua máu nên nghĩ đến việc lấy máu ra để xử lý”, GS Bình kể.

Đến năm 1995, các kĩ thuật y học cho phép lọc máu. Nguyên lý chung là cho máu chạy qua màng lọc để lọc lấy nước, các chất hòa tan hoặc độc tố, giúp quá trình viêm nhiễm giảm xuống, tế bào tổn thương cũng giảm theo.

Nhưng đó là câu chuyện trên thế thế giới, còn ở Việt Nam khái niệm lọc máu bấy giờ vẫn còn rất xa vời. GS Bình kể, qua các dịp tham quan, ra làm việc ở nước ngoài ông và đồng nghiệp quan sát “thấy lờ mờ” việc ứng dụng kĩ thuật lọc máu trong hồi sức cấp cứu (HSCC), tiên phong là Nhật Bản. Nỗi trăn trở theo ông về nước.

Đến năm 2002 những hiểu biết “lờ mờ” về lọc máu liên tục (LMLT) rõ nét hơn qua các tài liệu y học viết về phương pháp này. LMLT được hiểu là quá trình lọc máu diễn ra quá 12 tiếng mỗi ngày.

Đây là tập hợp nhiều phương thức lọc máu nhằm lọc bỏ ra khỏi máu một cách từ từ và liên tục các chất độc. Màng lọc có thể lọc và hấp phụ các hóa chất trung gian tham gia vào quá trình sinh bệnh của nhiều loại bệnh như: Nhiễm khuẩn nặng, suy thận, suy đa tạng, ngộ độc.

Nhận thấy hướng đi trên mới mẻ khả quan, BS Bình liền tổ chức nhiều cuộc họp bàn với các đồng nghiệp trong khoa, mời thêm đồng nghiệp ở bệnh viện khác tham gia ý kiến. “Thấy người ta làm rồi, bây giờ phải làm gì?”, “Lý thuyết lờ mờ, kĩ thuật chưa có, máy móc cũng không phải làm thế nào?”.

Tự học lý thuyết, mượn máy móc thử nghiệm

GS Bình cùng đồng nghiệp tự vạch ra hành động cụ thể: Một mặt tự thu thập và đọc tài liệu để nắm vững lý thuyết. Đồng thời mỗi BS trong nhóm phải tận dụng tất cả quan hệ cá nhân, nhờ đồng nghiệp có điều kiện ra nước ngoài học tập truyền dạy kĩ thuật. Còn máy móc, cũng nhờ mối quan hệ cá nhân mà nhóm BS Bình đã mượn được máy lọc máu của một bệnh viện ở Thái Lan.

Khi có tương đối đủ các điều kiện, GS Bình mạnh dạn đem ý tưởng trình bày với ban lãnh đạo bệnh viện Bạch Mai và nhận được những lời động viên. Nhưng cái khó nữa là vật tư thực hiện lọc máu ở đâu? Trong khi danh mục các thiết bị như bộ lọc chưa có trong danh mục thiết bị y tế Việt Nam. Thế là ông lại đứng ra cam kết với cấp trên sẽ “tự huy động vật tư, tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm”.

Không còn cách nào khác, các bác sĩ phải thuyết phục gia đình các bệnh nhân tự bỏ tiền mua vật tư để được áp dụng kĩ thuật mới. Nhiều người hăng hái tham gia nhưng cũng không ít người “đánh đố”, đưa ra điều kiện “nếu chữa khỏi thì mới bỏ tiền mua máy”.

Vượt qua những khó khăn trên, trong ba năm từ 2002 đến 2005, nhóm BS khoa HSCC bệnh viện Bạch Mai triển khai kĩ thuật lọc máu liên tục đối với gần 40 ca bệnh. Kết quả cho thấy phần lớn các bệnh nhân đều thuyên giảm, quá trình viêm giảm xuống.

Song song với đó là một loạt phương pháp mới ra đời từ kĩ thuật lọc máu, dụ như kĩ thuật lọc và thay huyết tương; Kĩ thuật gan nhân tạo và phương pháp lọc máy hấp phụ...

Tu vu ngo doc kinh hoang den cong trinh y hoc dat Giai thuong Nha nuoc - Anh 2

GS Bình theo dõi một bệnh nhân sau khi được lọc máu liên tục đã tạm ổn định

Mốc thời gian đột phá, cũng là động lực thôi thúc nhóm bác sĩ hoàn thành sớm công trình y học mang tính cách mạng, là thời điểm chứng kiến 3 thanh niên tử vong vì ăn gà rù.

Câu chuyện diễn ra vào dịp giáp Tết Nguyên Đán năm 2004, GS Bình tiếp nhận điều trị cho ba thành viên trong gia đình thầy giáo trẻ dạy THCS ở ngoại thành Hà Nội. Thầy giáo này trước hôm cưới vợ hai ngày đã giết con gà rù đem bỏ tủ lạnh chờ đến đám cưới để ăn.

Sau đám cưới bốn hôm, ba anh em nhập viện với những biểu hiện như sốt cao, hôn mê nhưng các bệnh viện đều không chẩn đoán ra bệnh. Bộ Y tế rồi tổ chức WHO sau đó vào cuộc, mời chuyên gia từ Hồng Kông sang hội chẩn, kết luận 3 người bị cúm A H5N1:

“Chúng tôi cho thở máy, bơm ôxy nhưng không hữu ích. Lượng ôxy trong máu cứ thế tụt giảm. Chỉ trong mười ngày, ba anh em khỏe mạnh lần lượt tử vong. Nhìn họ chết trước mắt, tôi bị ám ảnh, thôi thúc phải tìm ra cách gì đó cứu các bệnh nhân khác”, GS Bình kể.

Sau đó không lâu, khoa HSCC lại tiếp nhận một bệnh nhân quê Vĩnh Phúc có biểu hiện cúm A H5N1. Êkip bác sĩ đã dùng phương pháp lọc máu kết hợp các phương pháp khác như thở ôxy, dùng kháng sinh và đã cứu sống được bệnh nhân.

Công trình hiệu quả giúp hàng ngàn bệnh nhân

Việc cứu sống bệnh nhân quê Vĩnh Phúc kể trên giúp BS Bình và đồng nghiệp tìm ra hướng điều trị mới. Nhiều tháng sau đó, nhóm BS bệnh viện Bạch Mai tiến hành phương pháp lọc máu đối với 300 trường hợp người bệnh đến từ 18 tỉnh/thành nghi nhiễm cúm (sau này xác định có 8 trường hợp nhiễm cúm A H5N1).

Kết quả xét nghiệm nhận thấy lọc máu đã làm giảm tổn thương trên cơ thể, từ đó giúp quá trình điều trị dễ dàng hơn và các nhiều bệnh nhân được cứu sống. Đây là bước đệm để kĩ thuật lọc máu trong HSCC được Bộ Y tế đưa vào pháp đồ điều trị chính thức sau này.

Sau những thành công bước đầu, GS Bình làm báo cáo chi tiết gửi ban giám đốc bệnh viện Bạch Mai và Bộ Y tế xem xét. Và tới năm 2008 Bộ Y tế đã ban hành phác đồ lọc máu áp dụng điều trị nhiều bệnh lý trên cả nước, đồng thời đưa vào danh mục BHYT chi trả.

Cũng từ năm này, GS Bình và các đồng nghiệp bắt đầu thực hiện đề tài cấp Nhà nước nhằm chứng minh tính hiệu quả trên quy mô toàn quốc.

“Đề tài nhen nhóm từ năm 2002 nhưng tới năm 2008 mới triển khai chính thức, kéo dài đến năm 2013 thì ứng dụng rộng rãi. Có thể nói chúng tôi bắt đầu nghiên cứu kĩ thuật lọc máu chẳng khác nào “tay không bắt giặc”: Kĩ thuật không có, vật tư không có, tiền bạc cũng không”, chủ nhiệm đề tài nhớ lại.

Đến nay, kĩ thuật lọc máu liên tục đã được xây dựng hệ thống quy trình hoàn chỉnh và triển khai tại gần 30 bệnh viện trên cả nước. GS Bình chia sẻ ông mong muốn những kĩ thuật cao như lọc máu sẽ gần người dân hơn nữa. Cụ thể là được ứng dụng rộng rãi từ cấp y tế cơ sở, như vậy sẽ cứu thêm được nhiều người hơn. Ông cho biết sẵn sàng chia sẻ kĩ thuật, hỗ trợ chuyển giao kĩ thuật.

Về hiệu quả, Kĩ thuật lọc máu trong HSCC đã được ứng dụng cho khoảng 9000 bệnh nhân từ năm 2008 đến nay với giá thành chỉ bằng 1/5-1/10 chi phí điều trị tương đương ở các nước trên thế giới.

Đặc biệt kĩ thuật lọc máu đã giảm tỷ lệ tử vong của một số bệnh như của suy gan cấp từ 50% xuống còn 10-12%. Hay kĩ thuật lọc máu hấp phụ chất độc đã kéo giảm tỷ lệ tử vong do ngộ độc từ 85% xuống 65% và có thể giảm thêm nữa nếu bệnh nhân được áp dụng kĩ thuật từ tuyến cơ sở.

Tương tự, tỉ lệ bệnh nhân nhiễm trùng nặng tử vong trước đây khoảng 65%, nay thì nhờ lọc máu đã giảm xuống 45%.

Chia sẻ bí quyết thành công, GS Bình cho rằng tất cả các đề tài khoa học cần phải xuất phát từ thực tiễn, từ công việc hàng ngày:

“Trong công việc chúng ta gặp khó khăn gì? Thế giới đang làm gì? Mình có làm được không? Từ đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu mang lại lợi ích gì. Ngoài lợi ích cụ thể phải tìm ra được quy luật, phác đồ điều trị vừa đảm bảo hiệu quả vừa phù hợp nhân lực, vật lực chúng ta. Điều quan trọng nữa là phải đam mê, biết phát huy sức mạnh tập thể”, GS Bình đúc kết.

Công trình của GS Bình và cộng sự bao gồm 5 nhóm công trình sau: Nghiên cứu hiệu quả của lọc máu liên tục trong điều trị suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn và viêm tụy cấp nặng; Nghiên cứu hiệu quả của quy trình thay huyết tương trong bệnh Guillain- Barre và nhược cơ nặng; Nghiên cứu hiệu quả quy trình gan nhân tạo trong điều trị suy gan; Nghiên cứu hiệu quả của quy trình lọc máu hấp phụ trong điều trị ngộ độc cấp, bước đầu đánh giá hiệu quả của lọc máu hấp phụ trực tiếp với màng lọc Polymyxin B và phương thức lọc máu thẩm tách siêu lọc liên tục với sử dụng màng lọc Polymethylmethacrylate Acrylonitrile- Sodium Methallyl Sulfonate ở bệnh nhân viêm phổi do cúm A (H5N1, H1N1).

Mai Long