Sách văn học ở phương Tây (coi) là phạm trù giải trí, ở phương Đông coi như phần cứng của phạm trù tư tưởng. Tôi thấy Đông đúng hơn nếu cũng coi giải trí như một trong các chức năng của sách để nó không dần dà bị chính trị hóa, xơ cứng hóa.

Ve cai su doc bay gio - Anh 1

Hãy đọc sách một cách có chọn lọc (Ảnh minh họa)

Nhà Minh (Trung Quốc) hay triều Nguyễn ta đặc biệt có những vụ án văn tự thảm khốc. Thời bao cấp, chúng ta quản lý sách nghiêm cẩn có cái dở là làm cho ý tứ không lên gân thì tròn trịa, hình thức ngôn ngữ na ná nhau, không đáp ứng được độc giả cao cấp.

Khi cuốn "Bão biển" ra đời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Văn học ta vài năm nên có một "Bão biển", đừng để dân ta chỉ đọc sách dịch là chủ yếu”. Nhưng có cái rất hay là mỗi cuốn sách ra đời ít nhiều đều có giá trị, do qua tay nhiều thẩm định viên, không có sách nhảm nhí. Kế hoạch xuất bản có ý thức chính trị là dịch đủ các nước, không chỉ khối XHCN mà còn Mỹ, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nga… do quan niệm chính thống là chỉ đế quốc thực dân mới là kẻ thù.

Sau Đổi mới, do quan niệm và do cả vốn kinh doanh hạn hẹp, các nhà xuất bản thường bán giấy phép cho tư nhân hoặc tổ chức tư nhân. Việc xuất bản do đó tràn lan, vô tội vạ theo nghĩa là nhiều quá không kiểm soát được. Hệ quả: Đây chính là thời đa thư loạn ngôn. Và hệ lụy: Những bậc chính nhân quân tử ngại đọc sách, sợ vớ phải cái nhảm nhí, vô bổ.

Sẽ có người nói, số ít ấy không đọc có sá kể chi. Xin thưa không phải thế. Trí thức ưu tú ở quốc gia nào cũng là số ít, như đỉnh Kim Tự Tháp so với cạnh đáy - công chúng của họ; nhưng họ lan tỏa thẩm thấu cái tinh túy xuống nhằm nuôi dưỡng tâm hồn công chúng để thành ra xã hội văn minh, phát triển. Cảm giác loạn sách, trọc phú đang là cái nguy hiện thử thời, không thể không chấn chỉnh.

Cũng sẽ có người nói, mỗi thời mỗi khác bô lão ơi! Vâng, xin giả nhời: Trong quá trình công nghiệp hóa, Vương quốc Anh mất 300 năm, Nhật Bản 200 năm; thể chế quân chủ vẫn tôn vinh các giá trị văn hóa quý tộc; ở Anh còn là thời văn học cực thịnh và sau khi giàu có rồi, Anh và Nhật Bản bèn gia cố văn hóa dân tộc thành hàng hóa cho ngay giá trị kinh tế ngoại hạng mà họ giao cho ngành du lịch khai thác.

Nhưng mất kiểm soát xuất bản sách giấy mới là một nguyên nhân nhỏ của nguy cơ. Internet với sức lan tỏa của nó mới thật là hiểm họa. Tôi nghỉ hưu năm 2008, chuẩn bị nhận công việc lập website cho Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net) bèn trước hết lập riêng mạng vanchinh.net để tập quản trị website và nhân thể thăm dò đời sống văn học mạng. Sau hơn 3 năm làm văn học mạng nghiêm chỉnh (theo tôi), tôi thấy mỗi ngày chỉ có hơn 2.000 lượt truy cập vanchinh.net và cũng chỉ hơn một chút đọc vanvn.net; tôi bỏ mặc mạng riêng, tập trung vào mạng chung, con số hơn cũng không đáng kể. Bèn kết luận, sự nghiêm chỉnh của văn học khó có đất sống trên internet.

Tôi nghĩ, đọc là hành vi hưởng thụ thanh nhàn (vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao) vừa đọc vừa nhấm nháp cái hay, cái ý tứ sâu xa; ấy là quy trình chân thiện mỹ tiềm ẩn trong hình tượng nghệ thuật từ sách nó thấm vào người, chuyển hóa thành dinh dưỡng tâm hồn. Đọc sách, do đó là cách nên Người vững bền nhất; như ăn kỹ no lâu, chăm học thành tài. Hành vi đọc sách kỵ đọc nhanh, hành vi đọc mạng kỵ đọc chậm. Bản chất của sự đọc mạng nó phá sự đọc sách.

* * *

Sách in loạn không chỉ làm trí giả ngại đọc, còn bị ngay cả đại đa số bạn trẻ hít-le. Họ cũng có thể nói, các bô lão chê chúng cháu văn mạng bùi ngùi rẻ tiền, vậy chứ sách in của các vị có hơn gì đâu? Cũng ngôn tình rẻ tiền! Nhà văn Hoàng Quốc Hải nhận xét: “Ra hiệu sách thì sách Trung Quốc áp đảo sách Việt Nam. Từ triết học, văn học đến các loại văn chương rác rưởi của Trung Hoa, thậm chí các loại sách thần bí trước đây cấm ngặt, nay in thả cửa. Nhiều nhà sách cùng khai thác hết sức trơ trẽn cùng một tác phẩm tầm tầm, nếu không muốn nói là rẻ tiền".

Ve cai su doc bay gio - Anh 2

Thị trường sách in tràn lan, đủ thể loại

Nhưng, do tôi hiện làm công việc buộc phải đọc, nên có hình dung: Văn chương ta bây giờ như nồi cơm to thiếu lửa (các bạn chuyên văn mạng cũng có nhận xét, năm qua văn mạng im lìm) chỗ sống chỗ nhão, nếu chịu khó nhai kỹ cũng thấy bùi bùi ngòn ngọt. Nhiều tác phẩm cũng hay. Hay thật cũng có, và không ít đâu. Chỉ có điều, những cuốn này thường lẫn vào đống sách chất cao như núi kia, chứ ít khi lẫn vào danh sách Giải thưởng hằng năm của Hội Nhà văn.

Truyện ngắn của Y Ban, Thùy Dương, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Thị Kim Hòa (giải Nhất Văn nghệ Quân đội 2013 - 2014) đang hay, có dăm ba nghìn người đọc ổn định cho mỗi cuốn. Mỹ cảm ở văn Y Ban, Tống Ngọc Hân sục sôi, tiền đề của tác giả lớn; ở Y Ban bắt đầu lắng lại để khái quát triết luận về thế sự trò đời - cái mà bạn đọc còn chờ ở Tống Ngọc Hân hiện vẫn hồn nhiên, thấy thế nào thì kể như thế.

Truyện của các tác giả Hạnh Trần (Hòa Bình), Vũ Thanh Lịch (Ninh Bình) hay không đều, nhưng cũng hay. Hạnh Trần có truyện ngắn thách đấu bằng uống rượu, đồn trưởng Việt Nam cộng hòa thua rượu phải rút quân, nhường trận địa cho viên chỉ huy Quân giải phóng uống rượu vừa cao thủ vừa có mẹo. Viết về chiến tranh cứ như đùa, mà hay, rất Việt. Nhà văn Đoàn Ngọc Hà lão lai (mà) tài (chưa) tận, có truyện "Gái làng" viết tình yêu tình dục xoắn xuýt khó dứt mà dư vị lại tan nát một miền quê yêu dấu, tài.

Khoảng dăm năm qua tiểu thuyết thành công hơn truyện ngắn. Xin bạn đọc NNVN nhớ lại các cuốn sách mà tôi từng phê bình trên diễn đàn này: "Cánh đồng lưu lạc" (Hoàng Đình Quang), "Màu rừng ruộng" (Đỗ Tiến Thụy), "Biết đâu địa ngục thiên đường" (Nguyễn Khắc Phê), "Minh sư" (Thái Bá Lợi), "Trò chơi hủy diệt cảm xúc" (Y Ban)… Đó là các cuốn sách không làm mất thì giờ của cả quý vị trí giả cùng các giới bạn đọc nói chung, chúng kể về cái đang là, nhưng dư vị lại là cái bất biến, các giá trị bền vững.

Các tác giả quân đội có bước chuyển quan trọng về đối tượng, viết về phía bên kia như viết về con người, có tình yêu, có tín nghĩa, có lý tưởng (có thể lý tưởng của họ sai) chứ không phải là những người máy chỉ biết có đô la đĩ bợm. "Đối chiến" (Khuất Quang Thụy), "Thượng Đức" (Nguyễn Bảo), "Miền hoang" (Sương Nguyệt Minh), "Mình và Họ" (Nguyễn Bình Phương), "Xác phàm" (Nguyễn Đình Tú)…

Cái hay của các tác giả, nói chung, vẫn giữ được là mình, như La Quán Trung không giấu nổi mình là bề tôi trung thành của Hán, mà vẫn khách quan được với bên từng là kẻ thù. Đó là dấu hiệu đầu tiên của văn học chiến tranh trưởng thành. Sương Nguyệt Minh cảnh báo nhân loại có loại chiến tranh mà người ta phát động nhằm biến con người thành công cụ, đánh thức chất hung hãn của nhân tính nói chung, đẩy văn minh về hoang dã.

Nguyễn Đình Tú dồn nén nỗi đau về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc trong hình tượng một xác phàm không giới tính, nỗi đau khi mổ xẻ chuyển dứt khoát giới tính là một dư vị nghệ thuật ám ảnh. Nguyễn Bình Phương nhu nhuyễn mà gây sốc, kể như không mà cái đau cứ ngấm dần.

Ba nhà văn trẻ vừa kể đang sở hữu bút pháp còn rất mới đối với nền văn học nói chung là hiện thực chủ nghĩa, thành công nhiều ít khác nhau nhưng rất đáng chờ đợi. Tôi vẫn nghĩ mỗi nhà văn có nghĩa vụ làm mới mình, còn các tài năng thì làm mới văn đàn.

Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ III (2011 - 2015) của Hội Nhà văn vừa khép lại, với 3 giải B, 9 giải C. Không có giải Nhất không phải vì không hay mà ở sự hay đồng đều.

Người thứ hai (Tô Hải Vân, giải B) phản ánh rất rõ kiểu người hôm nay, mưu mô giành ghế của nhau; bên cạnh con người cá nhân luôn luôn có người thứ hai bám đuổi, tạo nên ức chế, khiến cuộc sống không sao thật được. Vĩnh Quyền qua "Mảnh vỡ của mảnh vỡ" (B) bứt phá bằng cấu tứ chắc chắn, chữ nghĩa mập mẩy đánh dấu bước chuyển quan trọng của tiểu thuyết cùng tư tưởng nghệ thuật đầy tự tin và biết làm nhuần nhị một vấn đề gai góc.

"Hát" (Trần Nhã Thụy, C) là những đòi đoạn khắc khoải trước một đời sống hời hợt, một hệ thống live show nông nổi, lòe loẹt và ô trọc. "Cuộc đời ngoài cửa" (Nguyễn Danh Lam, C) cùng với "Hát" tạo nên dàn song ca về những mảnh đời sống cứ rã rời ra trước ngưỡng của nơi tuổi trẻ vào đời; có thể coi chúng là khúc song tấu kêu gọi chất kết dính những tâm hồn thời kinh tế thị trường. Đành rằng văn học là công cụ của tình yêu cuộc sống nhưng khúc song tấu này mới thống thiết làm sao!

Điều đáng mừng là đã xuất hiện các nhà văn trong ngoài 40, một thế hệ song ngữ Việt - Anh khả dĩ làm cho tiếng Việt duyên dáng linh hoạt hơn mà sức ôm chứa, chuyển tải cũng hơn lên một bậc, sánh với thời các nhà văn song ngữ Việt - Pháp 1940 - 1945?

Đại khái chất lượng cuộc thi là thế, mỗi cuốn mỗi vẻ, chỉ thiếu vài ba thì mười phân vẹn mười. Có thể mạnh dạn nói đây là cuộc tổng lực chống suy thoái và đạo đức xã hội xuống cấp của văn học.