Vi khuẩn kháng kháng sinh đã thực sự là một vấn đề đáng lo ngại. Hiện sự kháng thuốc không chỉ khu trú ở một loài vi khuẩn là tụ cầu vàng mà còn lan tràn ở nhiều loại vi khuẩn khác như vi khuẩn gram âm, gram dương, phế cầu khuẩn, vi khuẩn viêm màng não… Chính vì thế, chống kháng thuốc đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lấy làm chủ đề cho Ngày sức khỏe thế giới năm nay.

Các vi sinh vật là nguyên nhân của nhiều bệnh nhiễm khuẩn khác nhau. Chúng là thủ phạm gây ra các bệnh như viêm phổi, viêm màng não, viêm gan, viêm ruột, viêm thận, viêm đường tiết niệu, viêm loét ngoài da; là nguyên nhân gây ra những vụ đại dịch như ho gà, bạch hầu, dịch hạch, đậu mùa… Một trong các phương thức hữu hiệu để chống lại các vi khuẩn gây bệnh là thuốc kháng sinh. Mối nguy kháng thuốc Thuốc kháng sinh được coi là một giải pháp cho loài người trong phòng và điều trị bệnh do nhiễm khuẩn. Nhờ có thuốc kháng sinh mà chúng ta có thể kiểm soát được nhiều dịch bệnh. Có nhiều loại kháng sinh, nhưng dù là loại nào thì chúng đều có một tác dụng chung là ức chế và tiêu diệt vi khuẩn. Cơ chế thực hiện của mỗi thuốc là khác nhau và các vi khuẩn nhạy cảm đối với mỗi thuốc cũng khác nhau. Vì thế chúng ta cần có nhiều loại thuốc kháng sinh để đẩy lùi tất cả những mầm bệnh này. Nhưng hiện nay, vi khuẩn đang có xu hướng kháng lại thuốc kháng sinh, làm cho thuốc đó không còn tác dụng trên lâm sàng, không còn tác dụng tiêu diệt vi khuẩn. Khi thuốc vào, vi khuẩn vẫn sống tốt, ngay cả khi chúng ta sử dụng kháng sinh nồng độ cao. Việc kháng thuốc kháng sinh là một mối hiểm họa lớn bởi lẽ vi khuẩn không còn gì ngăn trở. Những vi khuẩn kháng thuốc sẽ nhân lên nhanh chóng, di truyền tính kháng thuốc cho các thế hệ vi khuẩn con cháu và lây lan sang những người xung quanh và con người khi mắc bệnh do vi khuẩn gây ra sẽ không còn có cơ hội để điều trị. Vi khuẩn phân hủy thải loại kháng sinh để kháng lại. Để lý giải tình trạng này, người ta cho rằng sự đột biến đã dẫn tới hiện tượng kháng thuốc kháng sinh ở vi khuẩn. Khi sử dụng kháng sinh thì đa phần các vi khuẩn đều chết. Nhưng ở một số trường hợp hy hữu thì vi khuẩn còn sót lại, có những đột biến có lợi cho sự sinh tồn của chúng. Những vi khuẩn này nhanh chóng nhân lên và trở thành quần thể vi khuẩn kháng thuốc. Tìm hiểu dưới góc độ phân tử, người ta thấy các vi khuẩn kháng thuốc theo một hoặc nhiều trong ba cơ chế sau: tổng hợp các enzym bất hoạt hoặc phân hủy kháng sinh, thay đổi cấu trúc mà kháng sinh tác động và thải loại kháng sinh khỏi tế bào. Trong đó có nguyên nhân chủ quan rất quan trọng do sử dụng thuốc kháng sinh không đúng chỉ định, sai nguyên tắc, lạm dụng thuốc, không có sự hướng dẫn của thầy thuốc. Hiện tượng tổng hợp nên các enzym phân hủy kháng sinh là một hiện tượng rõ nét ở nhóm vi khuẩn tụ cầu vàng. Các vi khuẩn này tổng hợp nên men ß-lactamase phân hủy kháng sinh nhóm ß-lactam, là một nhóm kháng sinh phổ rộng, mạnh và hữu dụng. Khi bị phân hủy, các kháng sinh này không còn tác dụng và không còn đủ sức mạnh tiêu diệt vi khuẩn. Các enzym trên được tổng hợp cả ở trong và bên ngoài vi khuẩn để không có phân tử kháng sinh nào có thể tiếp cận được với tế bào của nó. Sự đột biến trong trường hợp này là sự đột biến trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn theo hướng tạo ra các men ß-lactamase. Với sự có mặt của ß-lactamase, tụ cầu vàng không chỉ kháng lại kháng sinh penicillin mà còn kháng lại các kháng sinh khác cùng dòng như piperacillin và cefotaxim. Không những thế, nó còn kháng lại dòng kháng sinh được coi là siêu mạnh: glycopeptid - vancomycin. Người ta còn quan sát thấy các men phân hủy kháng sinh khác như men chuyển acetyl chống lại chloramphenicol và men làm biến đổi cấu trúc chống lại các kháng sinh dòng aminoglycosid. Người ta cũng thấy rằng sự kháng thuốc không chỉ khu trú ở một loài vi khuẩn tụ cầu vàng mà còn lan tràn ở nhiều loại vi khuẩn khác. Làm gì để chống vi khuẩn kháng thuốc? Sự kháng thuốc kháng sinh, xét về bản chất là do việc sử dụng kháng sinh không đúng gây ra. Theo những quan điểm tiến hóa thì sự kháng thuốc sẽ xảy ra dần dần vì vi khuẩn phải có thời gian để đột biến. Thời gian này có thể là 10 năm, có thể là 30 năm hoặc lâu hơn nữa. Nhưng chính sự sử dụng kháng sinh không đúng đã làm cho hiện tượng đột biến xảy ra nhanh hơn, mạnh hơn và thời gian kháng thuốc sẽ ngắn dần. Để phòng ngừa sự kháng thuốc kháng sinh, ngoài sự quy chuẩn của y tế, ngay bản thân những người bệnh là những người quyết định đến vận mệnh chống nhiễm trùng của mình nhất. Những biện pháp sau được xem là có tác dụng: - Không lạm dụng thuốc kháng sinh như một thuốc thông thường. Chúng ta không nên chỉ đau, ho là đã ngay lập tức sử dụng kháng sinh vì những triệu chứng trên chưa hẳn là biểu hiện của một bệnh nhiễm khuẩn. Nên nhớ, kháng sinh chỉ có tác dụng khi có mầm bệnh là vi khuẩn gây bệnh. - Chỉ sử dụng kháng sinh khi chắc chắn có dấu hiệu hay bằng chứng của sự nhiễm trùng. Trong một số trường hợp, dự đoán chắc chắn nhiễm trùng nặng sẽ xảy ra thì có thể sử dụng kháng sinh dự phòng nhưng nên nhớ chỉ sử dụng ở một liều tối thiểu. - Cần chấm dứt ngay việc sử dụng kháng sinh khi đã đủ liệu trình cho phép nhưng cũng không được kết thúc quá sớm trước thời gian tiêu chuẩn. Sử dụng quá lâu sẽ làm cho vi khuẩn có cơ hội “tìm hiểu” kháng sinh và đột biến mạnh hơn. Còn kết thúc quá sớm sẽ làm cho vi khuẩn có nguy cơ hồi sinh và do đó có “kinh nghiệm” chinh chiến nhiều hơn để thay đổi. Cả hai biểu hiện này cần tuyệt đối tránh khi có sử dụng kháng sinh trong điều trị. - Cần sử dụng đúng kháng sinh với đúng loại mầm bệnh. Tránh sử dụng kháng sinh tùy tiện, sử dụng mà không cần thăm khám. Việc sử dụng đúng kháng sinh sẽ hạ thấp được liều điều trị, thành công hóa mục tiêu kiểm soát và sẽ hạn chế tối đa sự kháng thuốc. - Nếu có điều kiện, nên lựa chọn kháng sinh sau khi có kết quả làm kháng sinh đồ. BS. Nguyễn Hiền Anh