(Công lý) - Mặc dù chỉ xuất hiện lẻ tẻ, nhưng viêm não mô cầu lại có diễn tiến nhanh, gây bệnh nặng và khả năng tử vong cao. Vì thế, cần chuẩn đoán sớm và điều trị kịp thời để tránh những hậu quả đáng tiếc.

Bệnh màng não cầu (viêm màng não mô cầu) gây bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis (còn gọi là khuẩn màng não cầu). Vi khuẩn này được chia thành 13 “nhóm huyết thanh” ký hiệu bằng các chữ trong bảng chữ cái như A, B và C.

Có thể phòng ngừa bằng kháng sinh, tuy nhiện hiệu quả không cao và phòng ngừa bằng cách tiêm vacxin, các loại vacxin hiện nay cũng chỉ giúp phòng ngừa khoảng 85-90% trường hợp do chưa có loại vacxin nào đảm bảo gây miễn dịch đủ cùng lúc cho cả 6 loại vi khuẩn não mô cầu A, B, C, X, Y và W135.

Viem nao mo cau – can benh nguy hiem khong luong truoc - Anh 1

Cần cực kỳ chú ý tới hiện tượng xuất hiện tử ban ở da

Đặc tính vi khuẩn gây bệnh sống ở vùng họng mà đa số ai cũng mang. Tuy nhiên, tùy cơ địa mỗi người mà phát bệnh, gây nhiễm trùng sinh mủ ở các màng bao quanh não, gây nhiễm trùng huyết hoặc bị cùng lúc nhiễm trùng huyết và viêm màng não.

Những vi khuẩn màng não mô cầu này khó lây, chúng chỉ truyền từ người này sang người khác qua tiếp xúc gần kéo dài và thường xuyên trong gia đình hoặc tiếp xúc thân mật bởi dịch tiết nhiễm khuẩn từ mũi và họng. Nếu chỉ tiếp xúc qua nước bọt ở mức độ thấp, khó có khả năng lây truyền. Một nghiên cứu cho thấy, môi trường nước bọt làm chậm sự phát triển của vi khuẩn.

Khuẩn màng não cầu chỉ thấy ở người và không thể sống quá vài giây bên ngoài cơ thể. Bạn không thể bị lây bệnh màng não cầu từ môi trường và động vật. Không thể nhiễm vi khuẩn này từ nguồn nước, bể bơi, các tòa nhà hoặc nhà máy.

Mặc dù bệnh ít gặp, trong năm 2015, chỉ có khoảng 100 ca nhiễm trên toàn quốc, nhưng đây lại là bệnh mà mọi lứa tuổi đều có thể mắc phải và có diễn tiến nhanh, gây hậu quả khó lường. Những người nhiễm khuẩn màng não cầu, vi khuẩn có thể diễn tiến nhanh dẫn đến đưa đến tử vong trong vòng 24 giờ sau khi phát bệnh. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng nó phổ biến hơn vào mùa đông và đầu mùa xuân.

Đối với trẻ dưới 1 tuổi, khi nhiễm khuẩn màng não cầu, trẻ sẽ có những triệu chứng như: Sốt, bỏ bú, quấy khóc, vật vã, rên, cực kỳ mệt mỏi, không thích bế ẵm, buồn nôn hoặc nôn, tiêu chảy, tránh ánh sáng (sợ ánh sáng), lơ mơ, co giật, phát ban thành những chấm đỏ hoặc tím hoặc đám bầm tím lớn.

Với những trẻ lớn hơn hoặc người lớn, biểu hiện thường thấy nhất là: Sốt, đau đầu, chán ăn, cứng gáy, khó chịu khi nhìn vào ánh sáng (sợ ánh sáng), buồn nôn và/hoặc nôn, tiêu chảy, đau hoặc nhức cơ, khớp đau hoặc sưng, khó đi lại, cảm giác không khỏe, rên, nói lảm nhảm, lơ mơ, lú lẫn, bất tỉnh, phát ban là những chấm màu đỏ hoặc tím hoặc vết bầm tím lớn.

Cần cực kỳ chú ý tới hiện tượng xuất hiện tử ban ở da. Các chấm hay các mảng xuất huyết này lan rộng rất nhanh, bệnh càng nặng thì xuyết huyết càng nhiều, chính vì thế khi vừa thấy xuất hiện các chấm hay mảng xuất huyết này thì nên đưa ngay bệnh nhân đến bệnh viện.

Khi nhiễm vi khuẩn não mô cầu, thời gian ủ bệnh 2-10 ngày, thường 3-4 ngày. Bệnh khó phát hiện sớm vì biểu hiện ban đầu như viêm họng thông thường nhưng diễn biến cấp tính. Trường hợp, sốt viêm họng cần đến gặp bác sĩ ngay. Vì thế, không nên chần chừ khi có nghi vấn, đặc biệt khi có yếu tố nguy cơ tiếp xúc bệnh nhân trước đó. Bác sĩ sẽ khai thác tiền sử bệnh. Nếu nghi ngờ bệnh màng não cầu, bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm máu và dịch não tủy.

Viem nao mo cau – can benh nguy hiem khong luong truoc - Anh 2

Vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra viêm màng não

Hầu hết mọi người, như bạn học và bạn đồng nghiệp có tiếp xúc với người bệnh không cần dùng thuốc kháng sinh. Những người có quan hệ rất gần gũi với người bệnh gồm: Người thân sống cùng nhà; bạn gái hoặc bạn trai; bất cứ ai ở lại qua đêm trong cùng nhà với người bệnh trong 7 ngày trước khi người đó phát bệnh; trẻ em ở các cơ sở nhà trẻ mẫu giáo đã ở cùng phòng với người bệnh từ bốn tiếng đồng hồ trở lên trong bảy ngày trước khi người đó phát bệnh, có thể được dùng một liều kháng sinh dự phòng.

Kháng sinh có hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn màng não cầu ở họng. Chúng không phải là thuốc điều trị viêm màng não, và cũng không phải sẽ ngăn chặn được bệnh ở tất cả những người sử dụng.

Trong khi đang có dịch, để phòng bệnh, ngoài dùng kháng sinh và tiêm phòng, mọi người cần rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sát khuẩn, súc miệng, họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng thông thường, tránh chạm tay vào miệng, mũi và mắt, tránh các tiếp xúc gần gũi với người khác, nếu có thể, tránh ăn uống chung và sử dụng chung đồ dùng.

Khoảng 1/4 số người sau khi khỏi bệnh màng não cầu bị những di chứng của bệnh. Hầu hết các vấn đề sẽ thuyên giảm theo thời gian. Một số những di chứng hay gặp là: đau đầu, điếc một hoặc hai bên tai, ù tai, nhìn mờ hoặc nhìn đôi (song thị), đau và cứng khớp, suy giảm trí tuệ.