Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Trường Sơn, Viện trưởng Viện Y học biển Việt Nam, không thể mang mô hình quản lý y tế của đất liền áp dụng tại các vùng biển, đảo mà cần có chiến lược quốc gia về y tế biển.

Ông Sơn cho rằng tại các tỉnh có biển đảo, cơ sở vật chất tại các Trung tâm y tế và bệnh viện đa khoa huyện còn nghèo nàn. Nếu có đầu tư trang thiết bị hiện đại cũng không có người để sử dụng hiệu quả. Nhân lực tại các đơn vị này ít, chỉ từ hai đến ba bác sĩ, trong khi họ phải đảm nhiệm nhiều công việc từ y tế dự phòng đến khám chữa bệnh. Vì điều kiện đi lại khó khăn nên trong những tình huống cấp cứu khẩn cấp như mổ ruột thừa, chửa ngoài tử cung, bác sĩ luôn phải đối diện với tình trạng căng thẳng. Nếu quyết định mổ, chưa đủ điều kiện chuyên môn; còn nếu chuyển bệnh nhân về đất liền, không có phương tiện hoặc đi được cũng phải mất nửa ngày khiến tình trạng của bệnh nhân nguy kịch, thậm chí dẫn tới tử vong. Tất cả các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân tại các vùng biển, đảo. Do đó theo ông Sơn, để phát triển y tế biển đảo, Nhà nước cần ưu tiên đặc biệt cho những bác sĩ tình nguyện ra biển đảo, sau khi ra đảo trong khoảng thời gian quy định, trở về đất liền họ cần nhận được những đãi ngộ cụ thể về lương bổng, học hành. Có như thế mới thu hút được các bác sĩ tới vùng khó khăn, gian khổ... Hiện Viện Y học biển Việt Nam vẫn đang duy trì những hoạt động giúp củng cố mạng lưới y tế biển, đảo tại Hải Phòng như mở lớp hướng dẫn người dân các kỹ thuật an toàn khi đi biển, biết sơ cứu ban đầu khi không may bị tai nạn và biết các địa chỉ cần thiết để được trợ giúp kịp thời. Viện cũng đã huấn luyện y tế cho sĩ quan của các tàu Hải Phòng để họ có thể khâu vết thương, phòng chống dịch, mang theo thuốc thiết yếu để phòng tránh rủi ro khi họ đang trên tàu. Ngoài ra, Viện còn trợ giúp các đơn vị chẩn đoán, điều trị thông qua điện thoại, Internet trong những trường hợp khẩn cấp./. Minh Thu (TTXVN/Vietnam+)