() - Việt Nam phấn đấu tốc độ tăng dân số ở khoảng 1% vào năm 2015, đến năm 2020, 80% trẻ sơ sinh được sàng lọc bẩm sinh, tỷ lệ giới tính khi sinh đạt 115 bé trai/100 bé gái là những mục tiêu trong Chiến lược Dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) giai đoạn 2011-2020 vừa được Chính phủ phê duyệt.

(ĐCSVN) - Việt Nam phấn đấu tốc độ tăng dân số ở khoảng 1% vào năm 2015, đến năm 2020, 80% trẻ sơ sinh được sàng lọc bẩm sinh, tỷ lệ giới tính khi sinh đạt 115 bé trai/100 bé gái là những mục tiêu trong Chiến lược Dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) giai đoạn 2011-2020 vừa được Chính phủ phê duyệt.

Chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam rất lớn.
Ảnh minh họa: Internet

Với mục tiêu tổng quát là nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Chiến lược nhấn mạnh đến 11 mục tiêu cụ thể như sau:

Phấn đấu tốc độ tăng dân số ở mức khoảng 1% vào năm 2015 và ổn định ở mức khoảng 1% vào năm 2020; chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình của thế giới.

Nâng cao sức khỏe, giảm bệnh, tật và tử vong ở trẻ em, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ báo sức khỏe trẻ em giữa các vùng, miền. Tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh đạt 15% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020; giảm tỷ suất trẻ em chết dưới 5 tuổi xuống 19,3‰ vào năm 2015 và xuống 16‰ vào năm 2020; vào năm 2015, 30% trẻ sơ sinh được sàng lọc và vào năm 2020 là 80%.

Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng, miền. Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 53,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và xuống dưới 52/100.000 vào năm 2020.

Giảm mạnh tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố có tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nghiêm trọng, tiến tới đưa tỷ số này trở lại mức 105-106 trẻ sơ sinh trai/ 100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2025. Năm 2015, tỷ lệ này dưới mức 113 trẻ sơ sinh trai /100 trẻ sơ sinh gái.

Duy trì mức sinh thấp hợp lý, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản có chất lượng, số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở mức 1,9 con năm 2015 và 1,8 con năm 2020, quy mô dân số không quá 98 triệu người vào năm 2020.

Giảm tỷ lệ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn, đưa tỷ số phá thai xuống 27/100 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và xuống dưới 25/100 vào năm 2020.

Vào năm 2020, giảm 30% tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh sản, giảm 20% tỷ lệ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục so với năm 2010. Chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư đường sinh sản, ít nhất 50% số người trong nhóm từ 30 đến 54 tuổi được sàng lọc ung thư cổ tử cung và 50% số phụ nữ trên 40 tuổi được sàng lọc ung thư vú vào năm 2020.

Cải thiện SKSS của người chưa thành niên và thanh niên, so với năm 2010, giảm 20% số người chưa thành niên có thai ngoài ý muốn vào năm 2015 và 50% vào năm 2020. Đến năm 2020, có ít nhất 75% số điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS có dịch vụ thân thiện cho vị thành niên và thanh niên.

Cải thiện SKSS cho các nhóm dân số đặc thù (người di cư, người khuyết tật, người có HIV, một số dân tộc có nguy cơ suy thoái về chất lượng giống nòi); đáp ứng kịp thời nhu cầu CSSKSS cho người bị bạo hành giới và trong trường hợp thảm họa thiên tai. Tăng tỷ lệ tiếp cận dịch vụ CSSKSS cho nhóm dân số này lên 20% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020.

Tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi để đến năm 2020, ít nhất 50% số người cao tuổi được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng, 50% cơ sở y tế tuyến huyện trở lên có điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

Thúc đẩy phân bố dân số phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội quốc gia; tăng cường lồng ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành.

Như vậy, Chiến lược DS-SKSS giai đoạn 2011-2020 mục tiêu được chú trọng hơn cả là chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, khống chế tốc độ tỷ số giới tính khi sinh, giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ nạo phá thai, giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản… Chiến lược này cũng đã chú trọng đến nhóm dân số đặc thù và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Được biết, Chiến lược mục tiêu quốc gia về DS-SKSS giai đoạn 2011-2020 được xây dựng dựa trên bối cảnh kinh tế - xã hội 10 năm tới với những nét khác căn bản so với bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010: kinh tế phát triển hơn; y tế, giáo dục có nhiều tiến bộ; truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ, nhất là sự bùng nổ của Internet; khí hậu ô nhiễm hơn, biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng rõ rệt... Ngoài ra, Việt Nam đã kiên trì chính sách giảm sinh và đã đạt được những tiến bộ nhanh chóng về kinh tế - xã hội nên đã duy trì được xu thế giảm sinh một cách vững chắc và đạt mức sinh thay thế liên tục từ năm 2005 đến nay. Đồng thời, Chiến lược cũng được xây dựng trên cơ sở các địa phương của Việt Nam thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất có trình độ phát triển cao, mức sinh thấp, chênh lệch giới tính cao và nhóm thứ hai có trình độ phát triển thấp nhưng mức sinh cao.