Vào giờ Hợi (21h30) ngày 12.9.2017 (22.7 âm lịch), nhà thơ Thanh Tùng - nhà thơ của một “Thời hoa đỏ” đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 83 (ông sinh năm Ất Hợi 1935) tại tư gia - hẻm 24/7 Phạm Ngọc Thạch, quận 3, TPHCM.

Vinh biet 'Thoi hoa do' - Anh 1

Nhà thơ Thanh Tùng

Thanh Tùng tên khai sinh là Doãn Tùng, quê Nam Định, nhưng gia đình đã ngụ cư ở Hải Phòng từ lâu. Cha ông là tác giả kịch Doãn An lừng danh một thời. Các em ông cũng đều làm nghệ thuật, là nhạc sĩ Doãn Tiến và nghệ sĩ cello Doãn Khanh.

Thanh Tùng làm thơ từ khi còn học trường Ngô Quyền (Bonnal) - một trường lớn của Hải Phòng. Ngay từ những năm đầu chống Mỹ, ở tuổi “Tam thập nhị lập”, Thanh Tùng đã có thơ in trong tập “Thơ chống Mỹ” với đầy khát vọng, đam mê và gai góc - bài “Phố cửa biển”.

Thanh xuân của Thanh Tùng cũng có những dị biệt khác người. Ông từng là giáo viên thể dục trường cấp 3 Thái Phiên, rồi lại đi làm công nhân nhà máy đóng tàu Bạch Đằng với ham muốn đi vào đời thường cần lao để lấy chất liệu cho thơ mình. Chính sự dấn thân ấy đã đưa ông đến một cái nhìn đích thực về chiến tranh cùng những hệ luỵ bi thiết chứ không tô hồng. Chùm thơ viết về thời chiến của ông nhờ nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã được giới thiệu trên “Văn nghệ quân đội” năm 1978 và gây chấn động trong làng thơ. Trong chùm thơ đó, có “Thời hoa đỏ”.

Thanh Tùng tuy sống nghèo, đạm bạc nhưng căn nhà riêng của ông bên sông Lấp, Hải Phòng luôn luôn đầy ắp tiếng cười bạn bè. Cho đến khi thấy đã đủ ngấm Hải Phòng, Thanh Tùng quyết định một cuộc ra đi vào Sài Gòn với những dằn vặt, nức nở, rơm rớm và rưng rưng “Tôi có khóc đâu mà gió ướt”.

Vật vã cùng đời sống công nghiệp của thành phố phương Nam đầy nắng gió, Thanh Tùng cũng đã tìm được cảm hứng để “thơ tôi đã có thêm chỗ trú”. Cảm hứng ấy đã cho ông chất ngất trong cuộc đọc thơ tại “Festival thơ” ở Hy Lạp. Đọc thơ mình bằng tiếng Việt mà các nhà thơ quốc tế cảm nhận được, quả là chuyện hy hữu, chỉ có Thanh Tùng làm được.

Thanh Tùng làm thơ hồn nhiên với chính tâm hồn thi sĩ của ông, không ồn ào tranh giành nổi tiếng. Cả đời thơ, ông chỉ vừa xuất bản một tập thơ mang tên “Thời hoa đỏ”, ông đã tự xác định thứ hạng của mình ở vị trí một trong những nhà thơ bậc nhất thời chống Mỹ.

Sau thống nhất, vì đều là người Hải Phòng, tôi được gặp và chơi với ông bằng một tình bạn vong niên. Chơi và chứng kiến nhiều thời khắc đau khổ của ông, lúc thì ở Hải Phòng, khi thì ở Hà Nội. Và nhiều năm gần đây là ở Sài Gòn. Lúc nào ông cũng say sưa. Lúc nào ông cũng tươi cười. Sống và đọc thơ ứng tác vang lừng.

Ai cũng nghĩ ông cường tráng như thế chắc cũng phải cán đích “chín bỏ làm mười” tức là tròm trèm trăm tuổi. Nhưng vài tháng nay, bạo bệnh đã sầm sập vào cơ thể ông. Dù cháu Hương - con gái ông - đã làm đủ mọi cách có thể, nhưng ai mà “chữa được mệnh?”.

Vào chiều cuối tháng 8 mới rồi, trong chuyến đi công tác Sài Gòn, tôi đến với ông. Chàng thanh niên thời đôi mươi đã từng chạy bộ trăm cây số để tìm người yêu, giờ ngồi lọt thỏm giữa hai bình ôxy to vật vã như hai cột trụ cuối cùng của cánh cổng đưa ông vào cõi bất tử.

Tôi vội ghi lại mấy câu ngữ ngôn cho cháu Hương: “Không tranh giành nổi tiếng - Lặng lẽ chạy đường trường - Thơ thời chiến rơm rớm - Thơ thời bình rưng rưng - Bền bỉ chạy đến cùng - Tới đích cùng số phận - Đời khắc tên Thanh Tùng - Mãi mãi vào bất tận”.

Vĩnh biệt ông.

NGUYỄN THUỴ KHA