Vốn xã hội thấp thể hiện một sự khủng hoảng về lòng tin của cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, người ta sẵn sàng làm điều xấu và khi ấy cái xấu trở thành chuyện bình thường.

Đã có quá nhiều lời than vãn về trật tự giao thông đô thị ở nước ta, đặc biệt là tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nơi mật độ dân cư ngày càng cao, phương tiện đi lại ngày càng dày đặc. Trên những con đường chật hẹp đầy khói và bụi đến mức ngạt thở ấy, những người đi xe máy tranh nhau từng tấc đất, thậm chí tràn cả lên lề đường, thoải mái luồn lách bất chấp va chạm gây nguy hiểm cho mình lẫn người khác. Ai ai cũng hiểu như thế là sai luật nhưng ai cũng làm, bởi không ai nhường mình thì tại sao mình phải nhường người khác. Bức tranh bát nháo như vậy có thể qui kết cho trình độ yếu kém trong quản lý đô thị của các cơ quan chức năng, nhưng trong sâu xa đó là biểu hiện rõ nét hơn cả về một khái niệm được nhiều nhà kinh tế cũng như nhiều học giả đưa ra, đó là "vốn xã hội". Vốn xã hội được xem là phẩm chất của người dân được đặt trên nền tảng lòng tin vào cuộc sống, tin vào lòng tốt của con người với nhau và giữa công dân với hệ thống quản lý xã hội, tức chính quyền, và qua đó người ta sống trung thực với mình cũng như với người khác. Nguồn ảnh: saga.com Dưới góc độ kinh tế thì vốn xã hội được xem như hàng hóa công, không một ai được quyền sở hữu nhưng ngược lại chỉ một vài người lợi dụng lòng tin để lừa gạt hay làm hại người khác thì sẽ làm thui chột vốn xã hội mà nhiều người đã dày công xây dựng nên. Hiểu theo cách nào đó thì vốn xã hội là một loại nội công, phải luyện tập lâu ngày mới có mà lại rất dễ tiêu hao, như đã làm mất lòng tin thì khó lấy lại uy tín vậy. Hiện nay rất nhiều nhà nghiên cứu đã đặt vốn xã hội vào trong bối cảnh phát triển kinh tế và người ta nhận ra rất rõ tác dụng của vốn này. Nhìn về lợi ích của cộng đồng, có những tình huống mà nếu mỗi người đều tự nguyện góp sức vào thì hiệu quả sẽ cao. Chẳng hạn như người tham gia giao thông không giành nhau từng tấc đường khi kẹt xe, không xả rác nơi công cộng, sẽ khiến cho chính phủ không quá tốn kém chi phí cho trật tự, an toàn xã hội. Nếu mọi người đều cư xử tử tế với nhau vì lòng tự trọng, giữ lời hứa vì sợ mất danh dự, thì các giao dịch làm ăn sẽ bớt rủi ro, các cá nhân sẽ không tốn nhiều thời gian và tiền bạc cho những cuộc tranh tụng. Một xã hội vốn xã hội cao sẽ ít tội phạm, khi đã tin cậy nhau thì cũng dễ trải lòng với người khác, nhờ đó mà tránh được những va chạm trong đời thường. Nhà nước sẽ không phải tốn nhiều chi phí cho một bộ máy quản lý để ngăn chặn các hành vi phạm pháp có hại cho cộng đồng, cho nền kinh tế. Sự tiết giảm này giúp nhà nước có thêm chi phí nâng cao đời sống người dân. Làm ăn trong một đất nước có vốn xã hội cao thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm vì không sợ bị lừa gạt và nếu chẳng may có mầm mống xung đột thì vấn đề cũng dễ giải quyết vì sự đối xử tử tế nào cũng được đáp lại bằng một thái độ tương tự. Đây cũng chính là mối bận tâm của không ít nhà đầu tư nước ngoài khi phải giải quyết các tranh chấp với người lao động trong các vụ đình công. Một xã hội nghèo nàn vốn xã hội như chúng ta, do thiếu sự tin cẩn giữa những con người với nhau, thì việc thuê mướn, tuyển dụng nhân viên thường bị ảnh hưởng bởi sự thân quen, gửi gắm. Do đó người ta thường tìm cách móc nối và là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực. Vốn xã hội thấp thể hiện một sự khủng hoảng về lòng tin của cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, người ta sẵn sàng làm điều xấu và khi ấy cái xấu trở thành chuyện bình thường. Chính vì vốn xã hội thấp mà một hành động như trẻ em giúp đưa một người già qua đường hay việc trả lại khoản tiền lớn nhặt được của khách nước ngoài đánh rơi, thường được báo chí hết lời biểu dương, trong khi ở các nước văn minh đó là chuyện chẳng có gì phải ầm ỉ. Môn công dân giáo dục ở trường tiểu học dạy cho lớp trẻ về trách nhiệm với cộng đồng, tôn trọng luật pháp và tôn trọng người khác, dạy cho trẻ đối xử công bằng và sống ngay thẳng là những bài học đầu đời ăn sâu vào tâm thức, để con cháu chúng ta trở thành những công dân tốt sau này. Thế nhưng điều này ngành giáo dục của chúng ta chưa làm tốt. Tôn giáo cũng góp phần đáng kể trong việc hình thành vốn xã hội với những bài học về lòng bác ái, công bằng, khuyến khích con chiên, đạo hữu tuân theo những giới luật để đừng quá ích kỷ và nặng lòng với cuộc sống vật chất. Các giá trị văn hóa và truyền thống dân tộc là tiền đề cho một nguồn vốn xã hội phong phú, nhưng đó không phải là tất cả, vì sự tự phát vẫn chưa đủ để duy trì một vốn xã hội cao mà phải cần đến một định chế xã hội lành mạnh, thể hiện qua hệ thống pháp luật minh bạch và dễ tuân thủ. Luật pháp càng công minh càng tạo nên lòng tin trong xã hội. Luật pháp thiếu công minh dẫn đến lòng tin ngày càng giảm sút. Không ít người cho rằng kẻ thù lớn nhất của quá trình tích lũy và phát triển nguồn vốn xã hội chính là tham nhũng. Tham nhũng và hối lộ thì ở đâu cũng có, nhưng một đất nước mà vốn xã hội thấp thì tệ nạn này tràn lan và trở thành quốc nạn, nhất là khi phép nước chưa nghiêm, quan tham ngày càng lộng hành, người dân thì lòng tin bị xói mòn đến mức tê liệt phản ứng trước cái xấu. Yếu tố căn bản để tạo ra vốn xã hội chính là con người. Đất nước ta với bề dày lịch sử và nhân văn lâu đời đã có nhiều giai đoạn nguồn vốn này phát triển rất mạnh. Đáng tiếc là trải qua nhiều biến động nay nguồn ấy đã suy kém dần. Vốn xã hội ở mức thấp thì dù có thu hút nhiều loại vốn vật chất khác nhiều đến đâu cũng khó đạt được một mức phát triển kinh tế cao và bền vững như mong muốn. Đây cũng là một trong những bài toán khó của thời kỳ hội nhập.