Đầu tư ra nước ngoài đương nhiên là phải tuân thủ pháp luật nước sở tại. Nhưng đôi khi, những mối ràng buộc, đặc biệt là quy định pháp luật thay đổi khiến doanh nghiệp trở đi trở lại đều vướng và lựa chọn giải pháp nào là quyết định khó khăn.

VRG ngoi tren lua voi cay cao su tai Campuchia - Anh 1

Tại Campuchia, VRG đã đưa vào khai thác ban đầu 367 héc-ta cao su và chuẩn bị khai thác đại trà trên các vùng dự án

Quy định pháp luật của Campuchia về đất đai thay đổi

Khoảng chục năm nay, Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) triển khai các dự án trồng cao su ở nước ngoài, đặc biệt là Lào, Campuchia.

Riêng tại Campuchia, VRG đã đưa vào khai thác ban đầu 367 héc-ta và chuẩn bị khai thác đại trà trên các vùng dự án. Để phục vụ công tác khai thác, VRG đầu tư hoàn chỉnh 2 nhà máy chế biến, với tổng công suất 8.000 tấn/năm, đưa vào vận hành từ cuối năm 2015.

Vậy nhưng, VRG đang đau đầu giải quyết vướng mắc khi quy định pháp luật của Campuchia về đất đai thay đổi. Điều này gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả dự án và gây khó khăn cho việc hoàn thiện hồ sơ, thủ tục vay vốn đầu tư tiếp cho giai đoạn khai thác.

“Trong khi cây cao su đã đạt độ tuổi để khai thác mủ thì vấn đề vốn vẫn giậm chân tại chỗ”, ông Oknha LengRithy, Trưởng Văn phòng đại diện VRG tại Campuchia cho biết.

Theo ông Oknha LengRithy, trong giai đoạn trước đây, để thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ Campuchia cấp đất tô nhượng cho các nhà đầu tư nước ngoài với thời hạn 90 năm. Sau đó, Chính phủ Campuchia đã điều chỉnh giảm thời gian cấp đất tô nhượng kinh tế cho các doanh nghiệp trồng cao su và các cây công nghiệp từ 90 năm xuống còn 70 năm và mới đây nhất là 50 năm.

Bên cạnh đó, vào tháng 5/2012, Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia ký ban hành Sắc lệnh 01/Bo Bo về việc củng cố và tăng cường quản lý đất tô nhượng kinh tế. Sắc lệnh này yêu cầu tạm ngưng cấp mới, rà soát việc tuân thủ của các hợp đồng tô nhượng đã được cấp, nếu chủ đầu tư không thực hiện đúng các cam kết của hợp đồng sẽ bị thu hồi dự án.

Quan trọng hơn là sắc lệnh này buộc các hợp đồng đã được cấp trước đó phải thực hiện theo chủ trương, chính sách hiện hành. Tức là, các hợp đồng tô nhượng đã được ký trước với thời hạn cấp đất 90 năm, 70 năm nay sẽ phải ký lại với thời hạn 50 năm.

Đây là quy định không phù hợp với thông lệ xây dựng luật pháp nói chung mà các nước đều áp dụng, đó là nguyên tắc không hồi tố. Điều này dẫn đến bài toán khó cho VRG. Thông thường, cây cao su cho mủ trong thời gian khoảng 25 năm và mất khoảng 6 - 7 năm trồng ban đầu trước khi cây có thể khai thác lấy mủ. Như vậy, để khai thác được 2 mùa mủ đòi hỏi đất dự án có thời hạn trên 50 năm. Nếu chỉ cấp đất với thời hạn 50 năm thì dự án sẽ hết hạn vào giữa mùa khai thác mủ thứ hai, thời điểm sản lượng cao su cao nhất.

Chính vì vậy, trong thời gian qua, VRG liên tục đề nghị cơ quan quản lý của Campuchia xem xét và giữ nguyên thời hạn cấp đất cho các hợp đồng tô nhượng kinh tế được ký trước khi Sắc lệnh 01/Bo Bo có hiệu lực. Với các hợp đồng tô nhượng ký mới, thời hạn cấp đất sẽ là 50 năm như quy định hiện hành của Campuchia.

Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ Campuchia chưa chấp thuận kiến nghị từ phía VRG. Do đó, VRG chưa thể thực hiện việc ký lại hợp đồng tô nhượng để được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cây không chờ người

Khi cây cao su đã qua giai đoạn trồng mới và bước vào thời kỳ khai thác, các công ty của VRG tại Campuchia cần có vốn để triển khai tiếp, nhưng do thiếu “sổ vàng” (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chính phủ Campuchia cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có màu vàng), nên hồ sơ vay vốn bị ách tắc.

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó tổng giám đốc CTCP Chư sê - Kampong Thom cho biết, Công ty là đơn vị có diện tích cao su lớn nhất trong số 15 đơn vị thành viên của VRG tại Campuchia, với hơn 16.000 héc-ta chia đều cho 8 lâm trường. Việc trồng mới đã kết thúc từ năm 2014, Công ty đang chuẩn bị mở cạo, đưa vào khai thác thí điểm khoảng 250 héc-ta, chuẩn bị cho khai thác đại trà vào năm 2017, khoảng 2.000 - 3.000 héc-ta, với công suất 2.500 tấn/năm.

“Để bước vào khai thác đại trà, Công ty cần thêm vốn, nhưng do vốn chủ sở hữu còn hạn chế nên buộc phải sử dụng nguồn vốn vay. Chúng tôi được biết, Tập đoàn đã làm việc với Agribank, giữa hai bên đã có thỏa thuận hợp tác chiến lược và hồ sơ vay vốn của các đơn vị cơ bản đã hoàn thiện, chỉ thiếu duy nhất thủ tục về tài sản đảm bảo”, ông Nguyễn Tiến Dũng nói.

Như vậy, trước giai đoạn khai thác đại trà không thể trì hoãn, hoặc VRG phải kết thúc được việc đàm phán hợp đồng tô nhượng để hoàn tất thủ tục tài sản, hồ sơ vay vốn, hoặc phía ngân hàng nhượng bộ về thủ tục thế chấp tài sản. Một giải pháp thứ ba là tìm ngân hàng khác.

Được biết, quy định pháp luật về tài sản bảo đảm, tài sản thế chấp khi vay vốn của Campuchia đơn giản hơn quy định của Việt Nam, nhưng việc tìm kiếm ngân hàng khác không dễ. Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, các ngân hàng Campuchia thường thích cho vay dự án bất động sản hơn là dự án nông nghiệp, do rủi ro cao, phụ thuộc vào thời tiết. Cây cao su sợ nhất là thời tiết khô hạn thì đặc trưng thời tiết Campuchia là chỉ có hai mùa mưa, khô.

Một chuyên gia kinh tế cho rằng, rất khó có cơ hội cho VRG đạt được kết quả đàm phán đất tô nhượng như mong muốn, giữ nguyên thời hạn 90, 70 năm cho các hợp đồng đã ký và ký mới với thời hạn 50 năm. Bởi lẽ, nếu chấp nhận kiến nghị của VRG, Chính phủ Campuchia sẽ đối mặt với các đề nghị tương tự từ những chủ đầu tư khác. VRG nên đàm phán về nội dung, điều khoản đảm bảo sau khi dự án hết hạn 50 năm, Chính phủ Campuchia sẽ tiếp tục cấp phép dự án cho Tập đoàn trên diện tích ít nhất là như cũ.

Năm 2016 đã bước vào nửa cuối năm. Còn lại nửa năm để cả doanh nghiệp và ngân hàng cân nhắc lợi hại và có giải pháp hợp lý khơi nguồn tài chính cho dự án trước khi bắt đầu khai thác đại trà trong năm tới.

Bùi Trang