Xe tăng hạng nặng KV của Nga có thể bắn hạ bất cứ loại tăng nào trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, trong khi chiều ngược lại là gần như không thể.

Thông tin trên báo Kiến Thức, vào thời điểm cuộc chiến tranh giữa Liên Xô và Đức nổ ra, ngày 22/6/1941, Liên Xô có 693 xe tăng KV (gồm các biến thể KV-1, KV-2...). Tại thời điểm đó, KV có thể bắn hạ bất cứ loại tăng nào của phát xít Đức, trong khi chiều ngược lại là gần như không thể.

Trong giai đoạn đầu của Thế chiến 2, quân đội Đức sửng sốt trước khả năng chống chịu hỏa lực của tăng KV. Chiếc xe tăng này chỉ có thể bị súng phòng không Flak-36 88 mm bắn thủng trong một số trường hợp nhất định, và tài liệu lưu trữ của Liên Xô ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm của của các kíp tăng KV trước pháo binh và thiết giáp Đức. Theo nhận định của giới chức phân quân sự, xe tăng hạng nặng KV của Nga đã gieo rắc "cơn ác mộng khủng khiếp nhất" với lực lượng xe tăng Đức trong thời kỳ đầu chiến tranh.

Xe tang hang nang KV cua Nga co the ban ha bat cu loai tang nao - Anh 1

Xe tăng hạng nặng KV của Nga. Ảnh: VnExpress

Xe tăng hạng nặng KV-1 được đặt theo tên của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô, Kliment Voroshilov. KV-1 lúc đầu sử dụng pháo 76mm nòng ngắn và khi đến bản KV-1A năm 1940 sử dụng pháo 76mm nòng dài F32 L/41, khối lượng xe tăng đạt khoảng 46 tấn với độ giày vỏ dáp từ 37 đến 78mm, sử dụng động cơ V2K công suất 550 mã lực giúp KV-1 có tốc độ tối đa 35km/giờ, tầm hoạt động 225km.

Thực tế đã chỉ ra vài chiếc KV đơn lẻ đã chặn đứng cả một hướng tiến quân của Đức, ví dụ như một chiếc xe tăng KV-1 đã chiếm lĩnh vị trí bên ngoài Ostrov, trên con đường đến Leningrad, hoàn toàn “khóa” quân Đức vượt qua đây trong vài ngày, bắn hạ 7 xe tăng, một pháo chống tăng, một pháo 88mm cùng với một số lượng xe bọc thép và bộ binh Đức. Về sau nó chỉ bị hạ bởi một khẩu pháo phòng không 88mm.

Theo báo VnExpress, năm 1941, ra đời mẫu KV-1B với những điểm mới nằm ở tháp pháo hàn, giáp hông xe và giáp trước được tăng cường đạt độ dày 100mm giáp thép, khối lượng chiếc tăng cũng tăng lên 52 tấn, mặc dù sử dụng động cơ mới công suất 600 mã lực nhưng tốc độ lẫn khả năng vượt địa hình đều giảm, chỉ còn 30km/giờ và dự trữ 250km, sử dụng pháo F-34 76mm.

Bên cạnh xe tăng hạng nặng KV-1 thì KV-2 cũng được phát triển, điểm khác giữa chúng là KV-2 sử dụng tháp pháo giống như một khối hộp vuông vức, trên đó gắn khẩu pháo ML-10 cỡ 152mm. Thực tế thì KV-2 được sử dụng với vai trò hỗ trợ hỏa lực cho bộ binh, hơn là một cỗ máy diệt xe tăng, vì kích thước quá khổ và chậm chạp của nó.

Được biên chế từ cuối năm 1939, tăng KV nặng 47,5 tấn, sử dụng động cơ diesel 500 mã lực với lớp giáp dày hơn các xe tăng cũ của Liên Xô, dù hỏa lực không mạnh. Các thử nghiệm cho thấy lớp giáp của tăng KV có thể trụ vững trước 43 lần bị tấn công bằng đạn xuyên giáp nhằm vào tháp pháo.

Sau đó, tăng KV tiếp tục được cải tiến với lớp giáp dày tới 120 mm. Phần dưới thân được gia cố dày, gầm được hạ thấp và một số bộ phận được đơn giản hóa để tiện sản xuất hàng loạt.

Kíp tăng giảm xuống còn 5 người, pháo 76,2 mm L-11 được thay thế bằng pháo 76,2 mm F-32 uy lực và đáng tin cậy hơn và sau đó là pháo ZIS-5 cùng cỡ nòng nhưng tầm bắn xa hơn. Hỏa lực chính của tăng KV là lựu pháo M-10 152 mm. Tháp pháo trông thô kệch của nó trên lý thuyết có thể bắn đạn xuyên phá bê tông nặng 40 kg và 52 kg dùng để diệt công sự bê tông và boongke của đối phương. Tăng trang bị vũ khí mới này được đặt tên là KV-2.

Tuy nhiên, tăng KV đã vượt qua vòng thử nghiệm và đi vào sản xuất hàng loạt, trở thành "quả đấm thép" tăng cường sức mạnh cho Hồng quân Liên Xô trong những thời khắc quan trọng.

Xe tăng hạng nặng KV là niềm tự hào của lãnh đạo Liên Xô. Ảnh: Kiến Thức

Trong chiến tranh, xe tăng hạng nặng KV đã lập nên nhiều chiến công trước lực lượng thiết giáp Đức. Trong một trận đánh, một đội tăng KV Liên Xô do Zinovii Kolobanov chỉ huy đã hạ tổng cộng 43 xe tăng địch, trong đó riêng kíp tăng của Kolobanov đã diệt 22 chiếc.

Tuy nhiên ưu thế trên chiến trường của tăng KV chấm dứt vào tháng 12/1941, khi Hitler ra lệnh sử dụng đạn pháo tên lửa đẩy bí mật chống lại xe tăng Hồng quân. Lúc này, tăng KV trở nên dễ bị tiêu diệt như tăng T-34, khiến nhiều người bắt đầu quay ra chỉ trích nó như khả năng cơ động kém, tốc độ thấp, truyền tin không đáng tin cậy, và trọng lượng quá lớn.

Với những lý do đó, Liên Xô không muốn tiếp tục sản xuất tăng hạng nặng KV-2. Tuy nhiên, trước khi tăng IS-1 ra đời, tăng KV mới vẫn được xem là tăng Liên Xô đủ khả năng chống lại lực lượng thiết giáp hạng nặng Đức ở khoảng cách 1000 m. Sau Trận chiến Moscow, tăng KV là niềm tự hào của lãnh đạo Liên Xô. Năm 1942, Stalin ra lệnh chuyển giao một chiếc tăng KV-1 cho Anh và Mỹ để thể hiện niềm hãnh diện về loại vũ khí này với các đồng minh.

An Dương (T/h)