“Những lúc qua sông, hay xuống dốc mỗi xe có 3 người, người điều khiển, người kéo bánh, người phanh, cứ thế đi theo ánh trăng. Khi qua sông thì bắc mấy cây luồng, trải phên lá lên trên, rồi đẩy xe thồ qua”. Ông Trần Khôi nhớ lại cách dân công xe thồ tỉnh Thanh Hóa băng qua các dốc đá tai bèo dựng đứng miền Tây Bắc chở lương thực cho chiến trường Điện Biên Phủ.

Một buổi chiều muộn cuối tháng Tư, chúng tôi đã tìm đến nhà ông Trần Khôi (87 tuổi), nguyên Chính trị viên Đại đội dân công xe thồ 101 tỉnh Thanh Hóa, tại số 10 Ngô Văn Sở, phường Ngọc Trạo, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Mang ra một xấp ảnh chụp khi ông còn rất trẻ, đang quần đùi cùng “ngựa sắt” vượt dốc Dút, dốc Mướp 60 năm trước, ông Khôi cười, nói hai nhà báo quân đội đã tặng lại ông.

Ông Trần Khôi giới thiệu những bức ảnh lưu niệm của ông thời trẻ

“Học trò chân chiêu” đi dân công hỏa tuyến

Tháng 2/1954, mới 17 tuổi, đủ sức vác bao lúa 50kg, Trần Khôi được gọi vào đội dân công xe thồ tỉnh Thanh Hóa. “Đơn vị tôi huy động được 100 người, 100 xe đạp, do anh Nguyễn Hổ là đại đội trưởng. Tôi làm chính trị viên kiêm Bí thư chi bộ. Còn có hai công binh phụ trách đi theo sửa xe và một y tá. Binh trạm đặt đơn vị là C101”, ông Khôi cho biết.

Đội quân xe thồ 100 người của ông Trần Khôi được thành lập chóng vánh như cách tỉnh Thanh Hóa ồ ạt huy động tới 11.000 dân công xe thồ hỏa tuyến, bằng một nửa tổng số “binh đoàn ngựa sắt” của cả chiến dịch Điện Biên Phủ. Lúc đó có người còn quả quyết, dân công xe thồ xứ Thanh đủ sức “đua” với máy bay không vận của Pháp ở chiến trường Điện Biên.

Ông Khôi kể tiếp, đội của ông xuất phát từ phố Bôn, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, đi qua các huyện Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc rồi đến xã Xuân Lộc, huyện Thọ Xuân (đây là kho dự trữ gạo của thị xã Thanh Hóa lúc bấy giờ). “Chúng tôi được giao nhiệm vụ tải gạo từ Thọ Xuân men theo đường rừng qua huyện Quan Hóa đến Phú Lệ, Vạn Mai rồi tới Suối Ruốt (Hòa Bình) giao hàng. Khi đến đây chúng tôi mới chính thức được giao nhiệm vụ vận chuyển gạo lên địa điểm tập kết tại ngã ba Cò Nòi, tỉnh Sơn La”.

Ngày đầu tiên vận chuyển, mỗi xe chở 50kg gạo được đặt ở giữa khung xe. Xe được thiết kế tay lái dài để điều khiển và một cọc tre cứng đặt ở giữa để làm điểm tựa đẩy xe. Lội đèo vượt suối trong đêm tối khó khăn mới tới được điểm giao hàng. Tính từ điểm lấy hàng ở Suối Ruốt lên đến ngã ba Cò Nòi, Sơn La mất khoảng 20km. Đi từ 17h đến 2h sáng giao cho trạm. Ai xong trước thì lắp xích vào xe đạp chạy về trước, xong sau về sau.

Ông Trần Khôi kể: “Chúng tôi là học trò chân chiêu chưa làm việc gì nặng nên ban đầu cũng vất vả ngủ ở rừng thì không gặp thú dữ, chỉ có vắt và muỗi. Nhiều lần các anh em bị sốt rét phải khó khăn lắm mới trải qua được cơn lạnh từ trong bụng ra ngoài. Mặc dù đã phát quang nơi ngủ nhưng những con vắt cứ chui vào ống quần hút máu”.

Đội quân xe thồ tỉnh Thanh Hóa trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Tinh thần tiếp vận còn cao hơn đèo

Vì trời tối, nên khi đi ban đêm thì mỗi chiếc xe đạp thồ được trang bị một đèn cù chạy bằng ma sát của bánh xe. Xe nào không có thì dùng đèn dầu hỏa. “Chúng tôi trông theo pháo đèn dù của địch bắn và ánh trăng để đi. Cung đường của chúng tôi là qua Mộc Châu rồi đến Sơn La. Chúng tôi ngày thì ngủ, đêm thì đi. Vì lúc bấy giờ do giặc Pháp thường đi tuần ban ngày nên ban đêm cánh “anh thồ, chị gánh” mới vận chuyển lương thực”, ông Khôi nhớ lại.

Khi tiếng súng tiến công vào cụm cứ điểm Điện Biên Phủ ngày càng quyết liệt hơn thì đòi hỏi lương thực, vũ khí cho chiến trường càng trở nên bức thiết hơn. Các binh trạm đã giao cho các đại đội vận tải phát động các phong trào thi đua để vượt nắng, thắng mưa. C101 của ông Khôi đã họp bàn tăng lượng gạo vận chuyển, từ 50kg gạo lên 80kg rồi tới 126kg. Chở nhiều thì các yếu tố kỹ thuật sẽ không phù hợp. Nên đội của ông Khôi nghĩ cách “nâng cấp” bánh xe và lốp xe để đủ tải, bằng cách xé mảnh chăn chiên, áo ri ô buộc quanh bánh xe, sau đó lấy một lốp xe khác bọc vào. Đi như thế mới đủ chở số lượng gạo lớn trên đường đá tai bèo. Để chống sập vành, đội của ông Khôi có sáng kiến lấy tre để thay thế… Nhờ các sáng kiến này, trọng tải của xe được tăng dần lên, có thể chở được gần 300kg, hoặc hai thùng phuy nhiên liệu loại 150 lít, hoặc 15 - 20 can loại 20 lít (thời gian đầu, mỗi xe chỉ chở được 80-100kg). Hai xe đạp thồ khi gá lại có thể chở được hai thương binh nặng (nằm) và bốn thương binh nhẹ (ngồi). “Giải quyết được vấn đề tăng năng suất, chúng tôi đã xác lập kỷ lục là 170kg của anh Nguyễn Văn Đăng”, ông Khôi rất tự hào, dù thành tích chở cỡ đó chưa thể so sánh đội khác.

“Khi đi, đội chúng tôi lập nhóm Tam - Tam. Những lúc qua sông, hay xuống dốc mỗi xe có ba người, người điều khiển, người kéo bánh, người phanh. Cứ như thế đi. Khi qua sông thì bắc mấy cây luồng, trải phên lá lên trên, rồi đẩy xe thồ qua”, ông Khôi giải thích cách cánh dân công xe thồ vượt rừng già, ghềnh, thác, băng qua các dốc đá tai bèo dựng đứng miền Tây Bắc.

Những ngày đầu băng rừng giữa khuya, nhiệt huyết tuổi thanh niên khiến đội của ông Khôi dù mệt vẫn hát hò, lúc nghỉ ngơi vẫn “nói Trạng” theo tính cách của người tỉnh Thanh. Tuy nhiên, “nhiều anh em vào rừng khoảng một tháng bắt đầu bị sốt rét. Đường ngày càng khó đi. Những hôm trời mưa, khi cho xe xuống dốc, phải lấy một chiếc dép cao su làm phanh xe, nên một chân đi đất, đạp lên đá tai mèo, gai rừng… máu chảy đầm đìa. Những anh bị sốt rét mặt xanh xao, nhiều người tay phỏng rát. Để đi đến đích, phải lên tinh thần, anh em vừa đi vừa hát, “đèo cao thì mặc đèo cao, tinh thần tiếp vận còn cao hơn đèo”.

Đội chúng tôi phục vụ cho đến ngày 7/5. Khi được tin có đoàn từ hỏa tuyến về báo: “Giải phóng Điện Biên rồi, về đi thôi”. Nhiều anh em khác thấy vậy cũng đề nghị cho về. Nhưng còn phải tổng kết, chờ ý kiến của binh trạm. Đến tối ngày 7/5 thì binh chạm có chỉ thị sáng ngày 8 họp tổng kết tất cả các đơn vị cùng cung đường mới công bố giải phóng, hoàn thành nhiệm vụ”.

Vũ Hạnh

Sự xuất hiện của “xe đạp thồ”

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bên ta đã huy động trên 21.000 xe đạp thồ vận chuyển hàng hóa, thương binh. Loại xe này có lợi thế là không cần nhiên liệu, dễ sửa chữa, ngụy trang và có thể đi lẻ hoặc thành đoàn trong mọi điều kiện thời tiết.

Xe đạp thồ được biên chế thành từng đoàn theo địa phương. Mỗi đoàn có nhiều trung đội, đại đội (trung bình từ 30-40 xe). Mỗi trung đội, đại đội lại chia thành các nhóm khoảng 5-6 xe để hỗ trợ nhau khi qua đèo, qua dốc. Trung đội nào cũng có một xe chuyên chở đồ nghề, phụ tùng thay thế, bếp than để sửa chữa và vá chín; đêm đi, ngày nghỉ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân đội viễn chinh của Pháp huy động 80% trên tổng số khoảng 400 máy bay ở khu vực Đông Dương. Riêng lực lượng máy bay vận tải, tổng cộng Pháp huy động 100 máy bay C-47 Dakota và 16 máy bay C-119 của Mỹ. Mỗi ngày, có gần 100 lượt chiếc máy bay vận tải tiếp tế khoảng 200 - 300 tấn hàng, thả dù khoảng 100 - 150 tấn hàng cho quân đội Pháp. Giai đoạn cao điểm, Mỹ thiết lập cầu hàng không từ Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippin đến Bắc Bộ, rồi từ Sân bay Cát Bi, Gia Lâm lên Điện Biên Phủ nhằm đáp ứng nhanh chóng những thứ quân Pháp cần. Việc tiếp tế bằng đường hàng không của Mỹ cho Điện Biên Phủ đã sử dụng 82.296 chiếc dù và được mô tả “bao phủ cả chiến trường như tuyết rơi, hoặc như một tấm vải liệm”.