Việc tham gia các hiệp định thương mại tư do Việt Nam – ASEAN, hay tham gia đàm phán FTA giữa Việt Nam – EU, hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, là bước đi tất yếu của Việt Nam trên con đường hội nhập với khu vực và thế giới.

CôngThương - Sự kiện này mở ra những cơ hội cho hàng nông sản của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc cắt, giảm thuế quan.

Tuy nhiên cơ hội bao giờ cũng đi liền với những thách thức. Nhìn nhận một cách khách quan, sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực còn yếu, đây sẽ là khó khăn lớn cho các doanh nghiệp của Việt Nam khi phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại khi xuất khẩu và ngay tại thị trường nội địa.

Ông Phạm Ngọc Hưng, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội DN TP.HCM cho rằng, thị trường nông sản của Việt Nam hiện có lợi thế với lãi xuất thấp và chúng ta có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp đứng ngoài TPP. Tuy nhiên lợi hay không là tùy ở các doanh nghiệp chọn bây giờ. Bởi nếu doanh nghiệp không chuẩn bị bây giờ khi hàng hóa đổ vào doanh nghiệp không có nội lực cạnh tranh, quản trị doanh nghiệp, cách phân phối hàng yếu, kể cả quản trị dòng tiền cũng yếu đi thì sẽ gặp vô vàn khó khăn vì người ta có những lợi thế hơn mình. Tiền nhiều hơn, kinh nghiệm làm ăn nhiều hơn, do đó chúng ta cần phải xem lại vấn đề của chúng ta trước.

Trong khuôn khổ đàm phán các hiệp định tự do thương mại hay gia nhập WTO…, nông sản luôn là lĩnh vực được các nước bảo hộ mạnh mẽ. Dù thuế quan có được cắt bỏ hết nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác, bao gói… của các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí còn rủi ro hơn nhiều so với thuế quan, đặc biệt là tại các thị trường khó tính như EU và các quốc gia thuộc TPP.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhận định, việc tham gia các hiệp định thương mại cũng chính là động lực để thúc đẩy cải cách nền nông nghiệp trong nước. Và là nền tảng để tiến đến việc chuẩn hóa các sản phẩm nông nghiệp ở thị trường nội địa.

Ông Vũ Vinh Phú, Nguyên Giám đốc Sở Công thương Hà Nội cho biết, quan trọng là chúng ta phải chọn thế mạnh của mình. Thế mạnh phải là cạnh tranh được về chất lượng và giá cả cũng như về logistic, chi phí, về sự ổn định của nó. Đơn cử như gạo, hiện nay chúng ta vẫn thua xa Thái Lan. Các vấn đề về chất lượng, bao bì đóng gói… đều đang kém. Ngoài ra còn có các mặt hàng khác như hạt tiêu, hạt điều, cao su… quan trọng là chúng ta phải chọn được chiến lược lâu dài.

Theo các chuyên gia trong ngành, Nhà nước cũng cần xây dựng các rào cản kỹ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế, sẽ được áp dụng cho cả sản xuất trong nước cho phù hợp với hàng hóa xuất khẩu. Việc làm này sẽ giúp cải thiện tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm theo hướng an toàn hơn.

Nhằm đáp ứng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm từ các nước nhập khẩu và nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường nội đia. Tuy nhiên, cũng cần nhìn vào thực trạng sản xuất trong nước để đảm bảo các tiêu chuẩn sản xuất ban hành phải phù hợp và khả thi với các doanh nghiệp, tránh phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Ông Phạm Ngọc Hưng cũng cho rằng, trước hết Nhà nước cần có một chiến lược để nâng cao chất lượng cho hàng nông sản Việt Nam. Thứ hai là các tổ chức đoàn thể cần có nhiều thông tin để người ta xây dựng những chiến lược kinh doanh của họ và đặc biệt hỗ trợ hỗ trong việc thông tin về pháp luật, về các rào cản thương mại hay các thị hiếu của từng quốc gia, vùng miền để có thể đưa hàng hóa của mình xuất khẩu tốt.

Để các hiệp định thương mại thực sự có ý nghĩa với các doanh nghiệp xuất khẩu, bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cũng cần phải tìm hiểu rõ pháp luật và những quy định đưa ra của từng thị trường mục tiêu. Bản thân doanh nghiệp cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng và các cơ quan quản lý để kịp thời phản ánh những khúc mắc trong cơ chế nhập khẩu của từ phía các đối tác, tìm cách thương thảo cùng tháo gỡ, tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu của nước ta.

Theo Info TV

PHẢN HỒI