Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2017 được đặt thấp hơn năm 2016 (6-7% so với 8,6%) và sẽ nhập siêu trong khi năm ngoái xuất siêu.

Xuat khau tinh buoc lui - Anh 1

Năm 2016, gạo là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm sút khá trầm trọng trong nhóm hàng nông - lâm - thủy sản. Trong ảnh: Thu hoạch lúa ở ĐBSCL. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Năm 2016 được nhận định là năm xuất khẩu duy trì mức tăng trưởng tích cực trong bối cảnh thị trường thế giới sụt giảm và khó khăn ở trong nước, nhất là về nông nghiệp - bất lợi nhất trong sáu năm gần đây. Xuất khẩu tăng 8,6% so với năm trước, cao hơn mức tăng của năm 2015 (8,1%) và nằm trong nhóm nước có tỷ lệ tăng trưởng cao. Cán cân thương mại thì tiếp tục xuất siêu.

Tuy nhiên, năm 2017 mục tiêu xuất khẩu chỉ là tăng 6-7% - kém năm 2016 và chấp nhận nhập siêu dưới 3,5% kim ngạch xuất khẩu. Vậy đằng sau các con số này nói lên điều gì?

1. Xuất khẩu nổi lên vài mặt hàng, nhưng không bù được sự giảm sút của các mặt khác, khiến tổng thể không đạt mục tiêu năm 2016 tăng 10%. Nhóm nông - lâm - thủy sản có 3/9 mặt hàng giảm sút, trong đó gạo khá trầm trọng, ngoài dự đoán. Năm 2016 là năm thứ tư liên tiếp xuất khẩu than gặp khó khăn, ngay tiêu thụ nội địa cũng lao đao vì than nội “thua” than ngoại nhập ngay trên sân nhà, khiến nó từ mặt hàng chỉ xuất siêu nay nhập siêu. Nhóm hàng chủ công mang tên hàng công nghiệp chế biến có 7/32 mặt hàng sụt giảm. Sản xuất thép nội chưa bứt phá, xuất khẩu chỉ bằng một phần ba kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này.

2. Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2016 chỉ tăng 4,6% so với năm 2015- thấp hơn mức tăng của xuất khẩu - một nhân tố có tính “số học” tạo ra xuất siêu, nhưng cái chính là nội tình có những bất ổn.

Cùng bước vào thương trường quốc tế, song tư thế của khối doanh nghiệp trong nước kém xa khối doanh nghiệp FDI về mọi mặt. Với doanh nghiệp trong nước, nông sản thực phẩm dạng thô vẫn là chính và Trung Quốc vẫn là “chợ chính”. Thương lái Trung Quốc thao túng giá, dập dềnh điều tiết dung lượng, giăng bẫy rủi ro, trước sau, ít nhiều doanh nghiệp trong nước đều dính.

Nhóm hàng nhập khẩu chủ lực, là những hàng cần thiết cho sản xuất, chủ yếu để làm hàng xuất khẩu, chỉ tăng 4,4%. Phải chăng nó phản ảnh các thực trạng: (1) nguồn vốn để nhập khẩu không đủ; (2) bản thân sản xuất trong nước chẳng muốn nhận thêm đầu vào nữa? Dệt may do thiếu đơn hàng lại kém thế cạnh tranh, mục tiêu xuất khẩu 30 tỉ đô la Mỹ, nhưng chỉ đạt 23,5 tỉ đô la Mỹ, ắt phải cắt giảm nhập khẩu nguyên, phụ liệu. Trong khi đó, nhóm hàng “cần kiểm soát nhập khẩu” lại tăng tới 15,5%, với những con số phải suy ngẫm như: rau quả 916 triệu đô la Mỹ, bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc, chế phẩm thực phẩm khác cũng cả trăm triệu đô la Mỹ. Nhóm hàng “hạn chế nhập khẩu” có 53.420 ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi.

3. Thị trường xuất khẩu - thị trường nhập khẩu ngoảnh mặt nhau. Các thị trường Việt Nam thường xuất siêu như Mỹ, châu Âu năm 2016 tiếp tục xuất siêu, chứng tỏ ta không lợi dụng được thặng dư thương mại để đổi lại được chủ động nhập khẩu những nhu cầu mình mong. Ngược lại các thị trường Việt Nam luôn nhập siêu thì tiếp tục nhập siêu, lớn nhất là Trung Quốc rồi Hàn Quốc, ASEAN nhưng vẫn không thể lấy việc mua nhiều hàng của họ để hối thúc họ phải nhập lại hàng thế mạnh của Việt Nam. Đa phần hàng nhập từ Trung Quốc làm nguyên, phụ liệu để Việt Nam gia công thành hàng xuất khẩu và xuất tới các thị trường cao cấp, vô hình trung ta xuất khẩu hộ hàng nguyên, phụ liệu cho họ qua bàn tay người thợ của ta, vừa ngắn đường vừa né được nhiều phiền toái, nhất là chế độ bảo hộ mậu dịch.

4. Đúng ra nếu một nước xuất siêu dù với trị giá thế nào thì sẽ tác động tích cực đến GDP và lan truyền tươi sáng đến các lĩnh vực tài chính, tiền tệ quốc gia... Nhưng đáng tiếc, từ GDP đến cân đối ngân sách, nợ nần trong năm 2016 đều diễn biến ngược chiều tới mức lo ngại, vá víu chỗ này, bục chỗ kia.

5. Khối các doanh nghiệp trong nước luôn kém cỏi, xuống dốc trên cả ba phương diện liên tục trong ba năm 2014 - 2015 - 2016: (1) bất luận cán cân thương mại của cả nước thế nào thì doanh nghiệp trong nước triền miên nhập siêu, lần lượt là 14,6 tỉ đô la Mỹ, tới 20,6 tỉ đô la Mỹ, rồi tới 21 tỉ đô la Mỹ; (2) tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu teo tóp dần cũng qua ba năm nói trên, lần lượt là 32,7%, xuống 29,4%, rồi xuống 28,4%; (3) tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước cũng luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung, với ba cặp số tương ứng như sau: năm 2014 là 10,4% (so với 13,6%), năm 2015 là âm 3,5% (so với 13,8%), còn năm 2016 là 4,8% (so với 8,6%).

Khi không vực được khối doanh nghiệp trong nước mà chỉ trông mong vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì tăng trưởng của xuất khẩu nước nhà sẽ không bền vững. Khi “đánh hơi” không khai thác lợi thế nhân công giá rẻ được nữa, không bòn rút tài nguyên được nữa, khi thấy chủ nhà Việt Nam bừng tỉnh - đối xử với mình bình đẳng như với doanh nghiệp trong nước, thì doanh nghiệp FDI sẽ “bỏ của chạy lấy người”. Lúc đó xuất khẩu thực sự của ta ắt bị lung lay.

6. Cùng bước vào thương trường quốc tế, song tư thế của khối doanh nghiệp trong nước kém xa khối doanh nghiệp FDI về mọi mặt. Với doanh nghiệp trong nước, nông sản thực phẩm dạng thô vẫn là chính và Trung Quốc vẫn là “chợ chính”. Thương lái Trung Quốc thao túng giá, dập dềnh điều tiết dung lượng, giăng bẫy rủi ro, trước sau, ít nhiều doanh nghiệp trong nước đều dính. Với thế và lực này trong bối cảnh bảo hộ mậu dịch có xu hướng tăng thì “hàng Việt chính cống” càng khó xuất nhiều, xuất xa.

Đấy phải chăng là chuỗi nguyên cớ lớn nhất, bao trùm lên bức tranh nội tại xuất - nhập khẩu, khiến khi đặt mục tiêu cho năm 2017 phải tính đến... bước lùi?