Bài 2: Có nên tiếp tục kích cầu?

Gốc
(Toquoc)-Hai luồng ý kiến trái ngược nhau trong cả giới chuyên gia lẫn nhà quản lý về việc có nên kích cầu.

(Toquoc)- Hiện có hai luồng ý kiến trái ngược nhau trong cả giới chuyên gia lẫn nhà quản lý về việc nên và không nên kích cầu nền kinh tế trong năm 2010 tới đây. Tính đến thời điểm này, mặc dù còn hơn 2 tháng nữa mới kết thúc ‘nhiệm kỳ” nhưng có thể nói gói kích cầu kinh tế mà nội dung nổi bật là chương trình hỗ trợ lãi suất đã phát huy tác dụng, đạt được những kết quả nhất định. Chuẩn bị cho kế hoạch phát triển năm 2010, các chuyên gia kinh tế, các cơ quan chức năng đang đứng trước sự lựa chọn: nên hay không nên tiếp tục thực hiện kích cầu nền kinh tế? Không cần thiết Dù ủng hộ hay không ủng hộ chủ trương tiếp tục kích cầu nền kinh tế trong năm 2010, các chuyên gia, các nhà quản lý đều chung nhận định, một trong những tác động trái của chính sách kích cầu là ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp và tạo tâm lý ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước. “Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất, tăng chi tiêu của ngân sách Nhà nước làm tăng tổng cầu có khả năng thanh toán gây tiềm ần nguy cơ lạm phát”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Võ Hồng Phúc phân tích. Đồng quan điểm trên, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Hà Văn Hiền, cho rằng:Do tác động của gói kích thích kinh tế và thực hiện chính sách tiền tệ, sự gia tăng tín dụng, chính sách tài khóa nới lỏng, sức ép lạm phát sẽ tăng cao. Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam,năm 2010, nền kinh tế Việt Nam vẫn có khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5%, giảm thâm hụt ngân sách, giữ lạm phát ở mức 7-8%, không gây áp lực quá lớn lên chính sách tiền tệ và giảm xu hướng tích lũy nguy cơ bất ổn định. Tuy nhiên, những điểm yếu nội tại của nền kinh tế Việt Nam dường như vẫn chưa được giải quyết. Ngay cả trong xu thế thoát đáy, thì những căn nguyên nội tại của nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tạo nên sức ép lớn. Điều này hàm nghĩa quan trọng tới những vận động tự thân trong bối cảnh khởi sắc chung của kinh tế toàn cầu. Đó là các định hướng chính sách và khả năng phản ứng chính của Chính phủ với đặc thù riêng của nền kinh tế Việt Nam, các yêu cầu liên quan đến tái cấu trúc nền kinh tế. Theo ông Thiên, sứ mệnh kích cầu là giúp nền kinh tế vượt qua “điểm chết”. Đến nay, sứ mệnh đó đã hoàn thành. Do vậy, không nên thực hiện kích cầu trong năm 2010. Bởi, kích cầu luôn luôn cung ứng vốn với điều kiện dễ dãi, có lợi cho người vay, thiệt hại trực tiếp cho ngân sách và đặc biệt là gây tổn hại nguyên tắc thị trường của cơ chế phần bổ nguồn lực, làm méo mó môi trường kinh doanh. Ông Thiên phân tích: Về nguyên tắc, trong điều kiện nền kinh tế ốm yếu về thể lực, chưa vững mạnh về cấu trúc thể chế, một khi quá trình khôi phục tăng trưởng đã xác lập được thì cần sớm chuyển sang ưu tiên khôi phục môi trường kinh doanh thị trường bình thường, củng cố thể chế hơn là tiếp tục ưu tiên tốc độ tăng trưởng, dù dưới hình thức khôi phục nó. “Theo tôi, trong năm 2010, nền kinh tế nên chuyển hướng ưu tiên sang nhiệm vụ tái cơ cấu. Còn với những diễn biến vừa qua, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% trong năm tới cũng không phải là điều quá khó. Đồng thời, nếu đi theo định hướng này thì mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách, giữ lạm phát ở mức 7 - 8%... là có thể đạt được”.- ông Thiên nói Ông Cao Sĩ Kiêm, Ủy viên Hội đồng chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, cho rằng, gói hỗ trợ lãi suất mới nếu có kéo dài sang 2010 thì chỉ dùng bổ sung vào các lĩnh vực cần thiết, quy mô và mức độ hỗ trợ không thể như năm 2009. “Theo tôi, nội dung gói kích cầu thứ hai mà nhiều người đang trông ngóng được trải tiền với liều lượng, mức độ, thời gian như gói kích cầu thứ nhất là không thể. Bởi, khi nền kinh tế đã qua thời kỳ suy giảm, nếu không có sự thay đổi về chính sách thì những thành quả đạt được, có thể sẽ bị xóa sạch”- ông Kiêm cảnh báo. Tiếp tục và Thận trọng Bộ Công Thương đã trình một dự thảo lên Chính phủ, kiến nghị kéo dài gói hỗ trợ lãi suất cho nông dân vay vốn mua máy móc vật tư nông nghiệp đến hết ngày 30/6/2010. Quyết định 497 về việc hỗ trợ lãi suất vay vốn mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở nông thôn sẽ hết thời hạn vào ngày 31/12/2009. Song theo ông Nguyễn Văn Phượng, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp và Trang trại nông dân, nông thôn Việt Nam, đến nay mới chỉ có chưa đầy 20% tổng số trang trại cả nước tiếp cận được nguồn vốn này. TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng: Cho đến nay, mặc dù nền kinh tế đã có sự hồi phục nhưng vẫn có gì đó chưa thật rõ ràng. Nền kinh tế Việt Nam thực tế vẫn phụ thuộc nhiều ở bên ngoài, đặc biệt là đầu tư và thương mại. Việc Việt Nam hồi phục được, không chỉ nhờ có gói kích cầu 17.000 tỷ đồng mà còn nhờ sự hồi phục của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, sự khởi sắc của các nền kinh tế khác vẫn còn yếu ớt, có cái lên và cũng có cái xuống. “Theo tôi thì vẫn nên tiếp tục các giải pháp kích thích kinh tế. Vấn đề là chúng ta sẽ phải bàn kỹ, gói giải pháp này ở quy mô nào, mức độ như thế nào?”- ông Thành nói. Theo TS. Lê Đình Ân Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia, những khó khăn hiện nay của nền kinh tế Việt Nam là do 2 nguyên nhân cơ bản: do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới; và do yếu kém nội tại của nền kinh tế, như cơ cấu kinh tế, mô hình phát triển của từng ngành, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, cơ cấu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp... Đây chính là vấn đề cần phải cân nhắc khi xác định có hay không gói kích thích kinh tế thứ hai. Ông Ân cho rằng, tình hình kinh tế Việt Nam trong những tháng tới tuy còn khó khăn, song cơ bản đã thoát ra khỏi thời kỳ khó khăn nhất và đang theo chiều hướng tăng trưởng rất khả quan. Sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp đang dần bắt nhịp với đà tăng trưởng. Do đó, theo ông Ân, khi đặt vấn đề có gói kích thích kinh tế mới hay không, phải xem xét rất chu đáo tình hình kinh tế thế giới, đặc biệt là giá dầu và nguyên vật liệu chủ yếu phục vụ sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2010. GS.TSKH Nguyễn Mại: Cần cân nhắc thấu đáo Ngày 1/10, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã thông báo về việc Chính phủ sẽ xem xét gói kích thích kinh tế mới vào cuối tháng này sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia kinh tế. Trước đó, ngày 22/9, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đã tổ chức cuộc họp tư vấn về vấn đề này, tại đó đã có những ý kiến khác nhau. Có người kiến nghị nên có nhưng thu hẹp phạm vi đối tượng và giảm mức hỗ trợ lãi suất xuống 2%, chứ không phải là 4%. Có người cho rằng, nếu không đánh giá khách quan việc thực hiện gói kích thích kinh tế thứ nhất về đối tượng được thụ hưởng, về tác động đến tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, tạo việc làm, an sinh xã hội, về mặt trái của nó như tình trạng đảo nợ, cho vay không đúng đối tượng, đúng mục đích và sự trục lợi của “tầng lớp trung gian”, mà chính một số đại diện ngân hàng thương mại phát biểu tại cuộc họp là “mất cán bộ” vì lạm dụng tín dụng ưu đãi…, thì không có cơ sở để bàn đến gói kích thích kinh tế thứ hai. Cũng có người kiến nghị, nên có cách tiếp cận khác khi nền kinh tế nước ta đã có dấu hiệu phục hồi. Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với nước ta từ quý IV/2008, khi nền kinh tế được khắc phục về cơ bản tình trạng lạm phát cao bằng nhóm 8 giải pháp theo hướng thắt chặt tiền tệ, kiểm soát tín dụng. Quý I năm nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta đã sụt giảm, Chính phủ đề ra các giải pháp ngược lại, bơm tiền vào lưu thông và kích thích tín dụng theo ba hướng: 1. Tiền tệ: hỗ trợ 4% lãi suất cho vay để phục hồi sản xuất, xuất khẩu, đầu tư mới, để nông dân mua máy móc, vật tư. 2. Tài chính: miễn, giảm, hoãn một số thuế như thế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế trị giá gia tăng. 3. Đầu tư: tăng thêm vốn đầu tư mới, ứng trước vốn năm 2010… Do vậy, gói kích thích kinh tế được Chính phủ quyết định từ tháng 2 năm nay là một hệ giải pháp khá toàn diện, không chỉ là hỗ trợ lãi suất tín dụng thông qua các ngân hàng thương mại, mà còn là các giải pháp về tài chính và đầu tư. Theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 9 đã giải ngân 403.000 tỷ đồng, trong đó 62.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhà nước, 264.000 tỷ đồng cho các doanh nghiệp tư nhân và 70.000 tỷ đồng cho hộ gia đình trong gói hỗ trợ lãi suất 4%; Chính phủ đã và sẽ cấp bù cho các ngân hàng thương mại khoảng 17.000 tỷ đồng. Hiện chưa có con số chính thức về tình hình giải ngân của gói hỗ trợ lãi suất cho đầu tư mới và gói cho nông dân vay ưu đãi. Cả hai gói này Chính phủ cũng phải chi ngân sách để cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại. Tổng cục Thuế cho biết, chủ trương giảm, miễn thuế sẽ tạo ra khoảng 20.000 tỷ đồng kích thích tiêu dùng, đầu tư và sản xuất. Con số này có nghĩa là ngân sách nhà nước giảm thu một khoản tương ứng. Do thực hiện các giải pháp trên đây, dự báo bội chi ngân sách năm nay là 6,9% GDP, cao hơn 40% của mức bội chi gần 5% trong nhiều năm trước đó. Những con số trên đây mới nói lên một phần chứ chưa đánh giá đầy đủ bức tranh tổng quát nền kinh tế nước ta trước và sau khi thực hiện chủ trương kích thích kinh tế của Chính phủ; trong khi Chính phủ nhiều nước thông báo rộng rãi hàng tháng, thậm chí hàng tuần trên các phương tiện truyền thông đại chúng để mọi người dân được biết thực trạng tình hình kinh tế trong thời kỳ khủng hoảng. Đáng tiếc là cho đến nay chưa có một báo cáo tổng quan nào như vậy ở nước ta. Do đó, chúng tôi đồng tình với ý kiến cho rằng, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cần tổng kết việc thực hiện các gói kích thích kinh tế, đưa ra những đánh giá khách quan, tốt nhất là được phản biện bằng một tổ chức hoặc một nhóm chuyên gia kinh tế độc lập, sau đó được công khai trên báo chí, truyền hình để lôi kéo người dân tham gia vào các chính sách của Chính phủ. Dựa vào những con số thống kê về tốc độ tăng GDP, giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp từ quý I đến quý III, có thể nhận định rằng, nước ta đã chặn được tình trạng suy giảm tốc độ kinh tế và GDP năm nay tăng 5%-5,5%, tạo tiền đề cho năm 2010 tăng khoảng 6,5%. Diễn biến tình hình kinh tế là sự biểu hiện phản ứng chính sách của Chính phủ đã đưa lại kết quả đáng khích lệ. Tuy vậy cũng có những dấu hiệu đáng quan tâm trong điều hành kinh tế vĩ mô ở giai đoạn suy thoái. Thị trường chứng khoán có vẻ như đang sôi động trở lại trong khi nền kinh tế phục hồi không phải với tốc độ nhanh, VN- Index tăng 71% trong vài tháng gần đây không phải do các nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền vào Việt Nam như trước đây, mà chủ yếu là do hoạt động của các nhà đầu tư trong nước. Họ lấy tiền ở đâu để đầu tư chứng khoán (?). Hiện tượng ấm lên của thị trường bất động sản vừa đáng mừng, nhưng cũng là một vấn đề cần được lý giải. Có người đặt ra câu hỏi: bao nhiêu phần trăm các khoản vay tín dụng ưu đãi được đổ vào thị trường chứng khoán, mua nhà, đất và cả những hàng hóa khác như ô tô cá nhân (?). Ai được hưởng lợi từ gói kích thích kinh tế của Chính phủ(?). Làng nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình nhận được bao nhiêu, có tương ứng với nhu cầu cần trợ giúp trong trạng thái kinh doanh rất khó khăn của họ không, trong khi khu vực này tạo ra việc làm cho hơn 70% lực lượng lao động, hiện là nơi mất việc làm khá nhiều. Trong khủng hoảng kinh tế thì tầng lớp thiệt thòi nhất là những người nghèo. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lần này không chỉ tác động đến những người có thu nhập dưới 1,5 USD/ngày, mà cả những người “cận nghèo” thu nhập dưới 2 USD/ ngày. Tầng lớp dân cư đông đảo này được thụ hưởng từ gói kích thích kinh tế đến mức cần thiết chưa, hay nhiều người vẫn đứng ngoài cuộc (!). Chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ (CPI) của tháng 9 năm nay không phải là trạng thái thường diễn ra trong các tháng 9 của những năm trước. Nếu như từ năm 2001 đến 2008, CPI tháng 9 thấp hơn các tháng trước đó, thì tháng 9 năm nay CPI là 0,62%, cao hơn mức bình quân từ tháng 1 đến tháng 8, là sự cảnh báo về tình trạng nếu tiếp tục bơm tiền vào lưu thông và không có giải pháp kiềm chế tín dụng và tiền tệ thì CPI các tháng cuối năm còn tiếp tục tăng và nguy cơ tái lạm phát không hề nhỏ. Nguyễn Thành

Tin nóng

Tin mới