Bài 5: Thêm nhiều đề xuất thiết thực từ cơ sở

Gốc
QĐND Online - Tìm cách “sống chung” với bão, lụt là điều tất yếu với một quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai như Việt Nam. Với mong muốn có thêm những giải pháp phòng chống bão lụt (PCBL) có hiệu quả, người dân miền Trung “gửi” đến cơ quan chức năng nhiều ý kiến đề xuất thiết thực. Báo Quân đội nhân Online dân tổng hợp giới thiệu cùng bạn đọc.

Phải đào tạo nguồn nhân lực

Trường Sĩ quan Công binh (Binh chủng Công binh) những năm gần đây trong quá trình đổi mới giáo dục – đào tạo đã nắm bắt đòi hỏi của thực tiễn, bước đầu nghiên cứu và kiến nghị với Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Binh chủng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Nhà trường… về việc dành dung lượng nhất định trong khung chương trình để giảng dạy các kiến thức, kỹ năng PCBL nói riêng, thiên tai nói chung cho đội ngũ sĩ quan công binh tương lai. Hiện tại, Khoa Công trình và Khoa Cầu đường Vượt sông đã đưa nội dung cứu hộ cứu nạn và ứng cứu lũ lụt vào giảng dạy với thời gian là 6 tiết và 12 tiết. Tuy vậy, PCBL chưa phải là một bộ môn độc lập.

Ở Nghệ An, các phương án PCBL được “số hóa” lên phần mềm máy tính, giúp công tác quy hoạch dân sinh có lộ trình hợp lý. (Ảnh: Trần Hoài)

Đại tá Đặng Quốc Cẩm, Chính ủy nhà trường khẳng định:

- Việc đưa nội dung PCBL vào chương trình giáo dục – đào tạo là hết sức cần thiết và cần kíp. Bởi lẽ, lực lượng công binh được Bộ Quốc phòng xác định là lực lượng chủ lực trong thực hiện nhiệm vụ PCBL. Theo đó, người sĩ quan công binh phải có kiến thức, trình độ hiểu biết và kỹ năng về lĩnh vực mình sẽ đảm trách thì mới lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức hoạt động có hiệu quả. Tuy vậy, do quy định về khung chương trình đào tạo nên việc điều chỉnh, bổ sung một số môn học, học phần không thể tiến hành được ngay mà phải có lộ trình nhất định.

Quan điểm đó của anh Cẩm được lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị đóng quân trên địa bàn miền Trung, nhất là các đơn vị công binh nhiệt tình ủng hộ. Các ý kiến mong muốn, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nên giao phần việc này cho Trường Sĩ quan Công binh, sớm nghiên cứu, triển khai trên thực tế. Đại tá Trịnh Văn Sơn, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 293 (Binh chủng Công binh) khẳng định:

- “Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Đặc biệt nguồn nhân lực cho bộ máy tổ chức quản lý, tham mưu, điều hành công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai” là mục tiêu quan trọng trong Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 theo Quyết định 172/2007/QĐ-TTg ngày 16-11-2007 của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực một cách bài bản, hệ thống là công việc phải tiến hành ngay. Trường Sĩ quan Công binh là nhà trường có môi trường sư phạm phù hợp, thuận lợi nhất để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Liên quan đến vấn đề trên, một luồng ý kiến khác đề xuất nên đưa vào hệ thống nhà trường quân đội những đơn vị kiến thức liên quan đến PCBL nhằm đào tạo ra những cán bộ quân đội không chỉ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn có trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ PCBL. Với hệ thống các trường đại học dân sự, nên đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về PCBL; đưa những kiến thức cơ bản về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai vào chương trình giáo dục trong nhà trường, nhằm giáo dục cho học sinh, sinh viên hiểu và biết cách đối phó với các tình huống thiên tai cụ thể. Ông Trần Công Thi, Cán bộ hưu trí ở 141 Trần Nhật Duật (TP Nha Trang, Khánh Hòa) đề xuất:

- Những nội dung liên quan đến PCBL nên đưa vào hệ thống nhà trường như cách ngành giáo dục thực hiện giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên thời gian qua. Bằng con đường như vậy sẽ khơi dậy, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều lực lượng xã hội, nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong tham gia “đánh giặc thiên nhiên”.

Lại có nhiều ý kiến đề xuất: Bộ Giáo dục và Đào tạo nên nghiên cứu, thành lập cơ sở đào tạo chuyên sâu các nội dung về PCBL ở tầm quốc gia. Xem đó là giải pháp nhằm xây dựng được đội ngũ những nhà khoa học quân sự có tầm nhìn vĩ mô, góp phần hoạch định nên chiến lược, sách lược cho một đất nước “sống chung” với thiên tai.

Phải có tầm nhìn “quy hoạch”

Nằm ở vùng ngoài đê tả Lam, xóm 9, xã Hưng Châu có 85 hộ gia đình. Nhiều năm qua, vào mùa mưa lũ thường xảy ra tình trạng gây sạt lở cuốn trôi nhà cửa, tài sản và đe dọa tính mạng của người dân. Bởi vậy, đã từ lâu người dân xóm 9 luôn mong muốn được di dời ra khỏi vùng lũ.

Và điều mong ước đó của người dân sắp trở thành hiện thực. Bởi hiện nay, mặt bằng Dự án “ổn định dân cư vùng thiên tai có nguy cơ sạt lở bờ sông” tại cánh đồng Vâng (thuộc xóm 5 xã Hưng Châu) đã hoàn thành. UBND huyện Hưng Nguyên và xã Hưng Châu đang tiến hành làm thủ tục bàn giao đất cho các hộ đủ điều kiện di dời. Ông Nguyễn Ngọc Quyền, Chủ tịch UBND xã Hưng Châu nói:

- Khu tái định cư (TĐC) có tổng diện tích 3.500m2 với đầy đủ các công trình như: Nhà văn hóa, hệ thống điện, kênh mương thoát nước thài và đường giao thông… là nơi lý tưởng cho cuộc sống mới của người dân xóm 9.

Theo tìm hiểu được biết, khi di dời về nơi ở mới, mỗi hộ dân sẽ được Nhà nước hỗ trợ 20 triệu đồng, huyện Hưng Nguyên hỗ trợ 2 triệu đồng, xã Hưng Châu hỗ trợ ngày công xây dựng nhà ở đối với những hộ gia đình khó khăn về nhân lực. Ngoài ra, để tạo điều kiện cho các hộ dân có đất sản xuất, ổn định cuộc sống khi về nơi ở mới, chính quyền xã có cơ chế mở, tạo điều kiện cho các hộ nhận khoán lại đất vườn cũ để sản xuất nông nghiệp.

Câu chuyện về việc di dời dân vùng có nguy cơ sạt lở cao ở Nghệ An nhận được sự quan tâm, hưởng ứng của toàn xã hội. Người dân đánh giá cao động thái và nỗ lực của chính quyền, xem đó là cách quy hoạch chiến lược vì cuộc sống của nhân dân, là phần việc cụ thể nhằm thực hiện Chiến lược phòng chống thiên tai đến năm 2020 của Chính phủ: “Hoàn thành việc di dời, sắp xếp và ổn định đời sống nhân dân vùng thường xuyên xảy ra thiên tai theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt…”.

Thế nhưng không phải nơi nào, người dân cũng được hạnh phúc như ở Hưng Châu. Ở nhiều vùng trọng điểm bão lũ, người dân vẫn mong đợi từng ngày để được di dời, nhưng rồi các dự án TĐC vẫn cứ “treo” dai dẳng. Ở xã Đại Hưng (Đại Lộc, Quảng Nam), nhờ sự giúp đỡ của Quỹ Hỗ trợ phòng, tránh thiên tai miền Trung việc quy hoạch TĐC đã hoàn thành từ lâu, thế nhưng dự án vẫn bị “đắp chiếu” suốt thời gian qua. Ở Quảng Ngãi, tỉnh này xây dựng Đề án TĐC và đã tiến hành điều tra, khảo sát, quy hoạch đến năm 2015, phải di dời khoảng 9.000 hộ dân vùng có nguy cơ sạt lở, ngập lụt đến nơi ở mới; nhất là người dân vùng hạ lưu sông Trà Khúc, Trà Bồng, Trà Câu và sông Vệ. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch trên chỉ mới hoàn thành hơn nửa khối lượng công việc. Một số dự án triển khai tiến độ thi công chậm, cơ sở hạ tầng đầu tư chưa đồng bộ đã làm ảnh hưởng công tác di dời người dân đến nơi ở mới.

“Thực mục sở thị” các khu TĐC cho người dân vùng có nguy cơ sạt lở, ngập lụt các tỉnh miền Trung, dễ nhận ra những bất cập trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Nhiều dự án chủ yếu mới đầu tư san lấp mặt bằng, làm đường nội bộ, điện lưới, nước sinh hoạt, còn lại người dân đến ở phải tự lực hoàn toàn. Nhiều dự án nước sạch, đường đi mới bàn giao đưa vào sử dụng đã xuống cấp nghiêm trọng. Người dân đến sống tại khu TĐC gặp rất nhiều khó khăn, có người phải quay về nơi ở cũ… Những vấn đề tồn tại nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống và sản xuất của hàng nghìn hộ dân trong diện di dời. Hậu quả do bão lụt gây ra với một số nơi được xác định là vùng trọng điểm bão lụt những năm gần đây vẫn còn nguyên giá trị đối với các ngành, các cấp chính quyền.

- Quá trình thực hiện các dự án TĐC, chính quyền địa phương gặp không ít khó khăn, nhất là vấn đề nguồn vốn còn hạn hẹp, không bảo đảm để đầu tư hạ tầng một cách đồng bộ; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng gặp nhiều trở ngại; nhận thức và ý thức của người dân còn nhiều hạn chế… Thế nhưng với những vùng “rốn lũ”, vùng trọng điểm bão lụt, để người dân ổn định cuộc sống không còn cách nào khác là phải di dời. Trách nhiệm này thuộc về chính quyền mỗi địa phương. - Bà Nguyễn Thị Hải Vân Phó giám đốc Thường trực Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phòng, tránh thiên tai miền Trung nhận định.

Liên quan đến công tác quy hoạch, người dân miền Trung còn đề xuất hàng loạt các vấn đề như quy hoạch, phân vùng, đánh giá nguy cơ rủi ro thiên tai để từ đó có chính sách phù hợp cho những vùng, địa phương, các khu vực trọng điểm, làm cơ sở cho việc chủ động phòng tránh; ban hành các quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật xây dựng công trình trong các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai; điều chỉnh, bổ sung các quy chế, quy chuẩn về dự báo thiên tai. Người dân khu vực Bắc Trung bộ kiến nghị: Nhà nước cần sớm hoàn thiện chính sách bảo đảm an toàn cho hệ thống đê điều ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra; nâng cao mức chống lũ của hệ thống đê các vùng duyên hải; hoàn thành củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển; tăng cường công tác trồng rừng phòng hộ, chống bão lũ… Người dân khu vực Trung Trung bộ và Nam Trung bộ ý kiến về việc bảo đảm an toàn cho các hồ chứa, đặc biệt là các hồ chứa nước lớn, các hồ chứa có khu dân cư đông đúc hoặc cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa, công trình quốc phòng, an ninh quan trọng ở hạ du… Tất cả những vấn đề này kiến nghị trên cần sớm được cơ quan chức năng nghiên cứu, có chiến lược “dài hơi” giúp miền Trung “sống chung” với bão, lụt.

Theo nhận định của Liên Hợp Quốc, trong thời gian tới, Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng do biến đổi khí hậu. Các kết quả đo đạc, quan trắc cho thấy trong vòng 40 - 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam đã tăng lên từ 0,5 - 0,7 độ C, mực nước biển dâng đã cao hơn 20cm. Với một đất nước có hơn 3.200km bờ biển, tiếp xúc trực tiếp với biển Đông và nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong tương lai xa, mỗi năm Việt Nam phải hứng chịu ít nhất 8 - 10 cơn bão lớn.

Bài và ảnh: TẤN TUÂN- MINH MẠNH

Bài 1: Phổ biến kinh nghiệm phòng, chống bão, lụt

Bài 2: Đẩy mạnh xây dựng “nhà cộng đồng” chống bão, lụt

Bài 3: Mở rộng chương trình hỗ trợ nhà chống lũ

Bài 4: “Lực lượng nòng cốt” phải thực sự tinh nhuệ

Tin nóng

Tin mới