Bằng Việt - bếp lửa còn ấm mãi

Gốc
Nhìn bề ngoài Bằng Việt với cương vị Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội khá lâu năm, ai cũng nghĩ anh là một người công chức mẫn cán, chỉn chu nhưng ngược lại, anh lại là người rất xuề xòa, nghệ sĩ, sẵn sàng nhập cuộc vui bạn bè ở bất kỳ hoàn cảnh nào.

Sống như không, vượt qua mọi tỵ hiềm đố kỵ, Bằng Việt luôn tỏa hơi ấm của một bếp lửa đam mê qua những câu thơ gửi tới nhân gian: “Nghĩ cho cùng/ Dẫu bàn luận tha hồ, đâu làm ai chóng mặt/Điều đáng quan tâm duy nhất/ Là nói được gì cao hơn/Về thân phận con người!”

Tôi cứ nhớ mãi cái mùa thu năm 1967 ác liệt của cuộc chiến tranh phá hoại. Từ trường đại học nơi sơ tán tận Cẩm Khê, Vĩnh Phúc chúng tôi phải đi bộ về Hà Nội trong tiếng máy bay Mỹ không ngớt gầm rú. Dù chiến tranh thì mùa thu Hà Nội vẫn đẹp như muôn thuở. Chiều Hồ Gươm vẫn mờ sương bình yên. Bạn bè gặp nhau ở Thủy Tạ. Giữa một thoáng ưu tư, bỗng một người bạn đọc to: “Sau ba năm mặt đối mặt quân thù/ Cảm động quá, khi mùa thu lại đến”.

Câu thơ hay, thấm thía với văn cảnh quá. Hỏi ra mới biết đấy là câu thơ trong bài thơ mới của nhà thơ Bằng Việt mang tên “Tình yêu và báo động”. Người bạn còn cho hay nhà thơ này vốn học luật ở Liên Xô, nhưng làm thơ và dịch thơ rất hay, nhất là thơ Olga Berggoltz.

Rồi người bạn lại đọc: “Năm tháng đắng cay hơn năm tháng ngọt ngào hơn/Em mới biết bây giờ anh có lý” và bảo rằng đấy là bài thơ “Mùa hạ rớt” của nữ thi sĩ kia mà Bằng Việt vừa dịch. Cái tên Bằng Việt đã in vào thanh xuân tôi như thế. Ít lâu sau, tôi đã có trong tay tập thơ “Hương cây - Bếp lửa” của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt với bìa rất đẹp của Văn Cao.

Tôi đọc vội và mê luôn cả hai nhà thơ này. Nghe đâu Lưu Quang Vũ chỉ cỡ tuổi tôi. Thế thì phục lăn. Còn Bằng Việt thì thật ấm áp không chỉ bởi cái tên phần thơ mà cả chính bài thơ mang tên “Bếp lửa”: Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/Một bếp lửa ấp iu nồng đượm/Cháu thương bà biết mấy nắng mưa...

Mãi tới khi gặp Bằng Việt tại Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới (bây giờ là Nhà xuất bản Hội Nhà văn) năm 1982, tôi mới biết khi tôi vào Trường Sơn năm 1972, thì Bằng Việt cũng đi thực tế để sáng tác ở đó. Những ngày Trường Sơn đã cho Bằng Việt có tập thơ riêng đầu tiên - tập “Những gương mặt - Những khoảng trời” ấn hành năm 1973. Gặp nhau, thế là thành bạn bè.

Hóa ra, Bằng Việt làm thơ từ năm hai mươi tuổi. Bài thơ đầu tiên “Qua Trường Sa ”của anh viết trên đường đi du học ở nước bạn đã được độc giả chú ý. Nhưng thực sự phải đến thời đầu chống Mỹ, người yêu thơ mới biết đến Bằng Việt, Lưu Quang Vũ qua tập “Hương cây - Bếp lửa”. Ngoài bài “Bếp lửa” ấm áp cảm xúc, tôi còn rất thích bài “Bet-tô-ven và âm vang hai thế kỷ”.

Bằng Việt lúc ấy được biết đến như một nhà thơ có những câu thơ triết lý sâu sắc và chứa đựng sự hiểu biết văn hóa sâu rộng. Anh thực sự tỏ ra am hiểu nhạc giao hưởng khi chuyển bốn nốt nhạc chủ đề bản giao hưởng “Định mệnh” của Bet-tô-ven vào thơ mình thật độc đáo: Nghĩ chi em, bốn tiếng sấm bão bùng/Bốn tiếng đập dập vùi số phận/Bốn cái tát trong đời gián gậm/Bốn âm thanh dựng đứng tâm hồn lên...

Nhờ sự am hiểu này, ngay sau khi đất nước thống nhất, Bằng Việt đã viết một cuốn sách về “thần đồng âm nhạc thế giới” W.A.Mozart vào năm 1976 khi anh ở tuổi 35, bằng tuổi thọ của W.A.Mozart.

Nhà thơ Bằng Việt.

Sau cuốn sách danh nhân này, Bằng Việt lại ấn hành những tập thơ trong thế kỷ XX như “Đất sau mưa” (1977), “Khoảng cách giữa lời” (1984), “Cát sóng” (in cùng Vũ Quần Phương năm 1985), “Phía nửa mặt trăng chìm” (1995). Trong những tập thơ này, xen giữa những tập thơ tràn trề sự sống mọi miền đất nước thời chiến tranh và thời thanh bình với dung lượng câu thơ khá nhiều, Bằng Việt có những bài thơ ngắn với tứ thơ độc đáo như “Học trò Hà Tĩnh”, “Bên địa đạo Vĩnh Quang”, “Những vỉa than ngầm”, “Quá chừng”, “Nơi ấy”, “Bách Thảo”, “Muộn”, “Lặng lẽ”, “Hoa phượng”, “Khoảng cách giữa lời”, “Sự tạm bợ”… Thơ lục bát của Bằng Việt cũng thanh thoát, dịu dàng như vóc dáng của anh với mái tóc bồng bềnh và gương mặt đẹp trai sau cặp kính.

Tuy nhiên, thời kỳ thơ ấy của Bằng Việt vẫn nghiêng nhiều về ngợi ca. Chất sử thi và chất chữ tình vẫn nồng men trong tự sự với những nỗi niềm trở trăn về thời cuộc và con người. Chính thời kỳ anh tham gia công việc chính quyền với tư thế Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, thời kỳ mà nhiều bạn bè cứ ngỡ anh “rẽ lối” sang con đường quan chức lại chính là thời kỳ chuyển động ngầm trong thi pháp Bằng Việt để đạt tới một giọng thơ thiền định như không mà lay động lòng người.

Trong bài “Nghệ thuật thu nhỏ” làm năm 1999 - năm cuối của thế kỷ cũ anh đã bày tỏ lối ngoặt này trong thơ thật bất ngờ: Thu nhỏ cảnh quan, làm bé từng hiện vật/Dẫu tinh xảo tột cùng, cũng chỉ hóa trò chơi/Điều may mắn cho mọi nền nghệ thuật/Là không thu bé đi mọi giá trị con người/Thu sao mọi ước mơ, thu sao mọi nỗi buồn/Gọt bớt cảm xúc ư? Gọt bớt dòng suy tưởng?/Nhân loại đã đi qua mọi luân hồi nghiệp chướng/ Để được đúng là mình, không được bé đi hơn...!

Và đặc biệt là bài “Vườn Nhật Bản”. Dẫu nhịp thơ xưa nhưng tư tưởng đã thoát bay khỏi những băn khoăn rêu cũ: Đá và rêu/ Cách ta đã bảy trăm năm/ Huyền hoặc và ám dụ/Đá ngồi thiền, thẩm thấu lẽ tử sinh/ Rêu lặng lẽ xuất thế và nhập thế/ Sóng cuội, sóng khô, vô tận vô cùng.../ Thanh tĩnh đến mức nghe được chính mình / Vườn ẩn hiện bất ngờ theo nhịp bước / Nhưng tham, sân, si ... đã bỏ quên ngoài cổng/ Chút ghen tị hóa công cũng rơi nốt dọc đường/ Cỏ hữu hạn xanh veo thành bất tử/ Lòng hoàn nguyên rửa sạch với thinh không...

Thế là sau hết mọi “nhân tình thế thái”, sau hết gian lao thế kỷ cũ, Bằng Việt đã không chịu “lưu ban” mà trở thành một Bằng Việt nhà thơ của thế kỷ mới “Có gì run rảy tình sương/Ru ta tới lẽ vô thường nhẹ không”. Để được “cứ như không” đến vậy đâu có phải dễ dàng. Đó là cuộc chiến đấu chống lại chính mình: “Anh trả giá bằng rất nhiều cực khổ/ Để được cứ như không, thư giãn, nguyên lành ...”. Bởi thế, anh đã tự tin “ném câu thơ vào gió”: Nay được ném câu thơ vào gió thổi/ Tin, không tin ... vẫn còn lại riêng mình/ Còn lại tấm lòng mong manh, dễ vỡ/ Cát đã qua lò, nay hóa thủy tinh...

Chính cái tư tưởng này đã cấu trúc nên tập thơ “Ném câu thơ vào gió” (2001) và “Thơ trữ tình” (2002). Tập thơ “Ném câu thơ vào gió” đã được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và Bằng Việt đã vinh dự được nhận giải thưởng Văn học ASEAN năm 2002 tại Thái Lan sau những giải thưởng Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội năm 1968, giải thưởng về Dịch thuật Quốc tế 1983, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2001 cùng “Tuyển thơ Bằng Việt” (2003). Và gần đây nhất, mới lạ và cập nhật là “Nheo mắt nhìn thế giới” (2008). Thêm một lần khẳng định, thơ Bằng Việt không “lưu ban” thế kỷ. Không “lưu ban” vì đã ngấm trải “có nỗi buồn bay qua lỗ kim”.

Nhìn bề ngoài Bằng Việt với cương vị Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội khá lâu năm, ai cũng nghĩ anh là một người công chức mẫn cán, chỉn chu nhưng ngược lại, anh lại là người rất xuề xòa, nghệ sĩ, sẵn sàng nhập cuộc vui bạn bè ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Sống như không, vượt qua mọi tỵ hiềm đố kỵ, Bằng Việt luôn tỏa hơi ấm của một bếp lửa đam mê qua những câu thơ gửi tới nhân gian: “Nghĩ cho cùng/ Dẫu bàn luận tha hồ, đâu làm ai chóng mặt/ Điều đáng quan tâm duy nhất/ Là nói được gì cao hơn/ Về thân phận con người!”.

Tin nóng

Tin mới