Bảo đảm mục tiêu giáo dục nhân cách học sinh

Gốc
NDĐT - Dạy, học đạo đức - giáo dục công dân (ĐĐ - GDCD) trong trường phổ thông góp phần trực tiếp hình thành nhân cách học sinh nhưng từng bị coi là môn “phụ”. Chương trình, sách giáo khoa (CT, SGK) dạy môn học ĐĐ - GDCD cũng chưa thật sự thiết thực, hiệu quả. Trong khi gần đây, tình trạng học sinh trong các trường phổ thông có lối sống, hành động, việc làm thiếu lành mạnh, thậm chí vi phạm pháp luật xảy ra ngày càng nhiều.

Không phù hợp lứa tuổi

CT, SGK hiện nay về giáo dục ĐĐ - GDCD được Bộ GD và ĐT triển khai được 11 năm. Về cơ bản, mục tiêu chương trình môn học đã đáp ứng theo quy định của pháp luật và cụ thể hóa trên ba bình diện: kiến thức, kỹ năng, thái độ. Nội dung giáo dục ĐĐ - GDCD được xác định rõ ở mỗi lớp, mỗi cấp học. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, CT, SGK dạy học ĐĐ - GDCD hiện nay còn khô khan, gượng ép, kiến thức trừu tượng, khó hiểu, nặng về giáo dục chính trị, nhẹ về giáo dục kỹ năng sống… Theo PGS.TS Nguyễn Dục Quang (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) cho biết nhiều học sinh cho rằng bài học khó hiểu, khô khan, chưa gắn chặt với đời sống tuổi trẻ. Dẫn giải cụ thể ông Quang phân tích: Ở lớp bảy đã phải nắm hết kiến thức về quốc hội, HĐND, bộ máy nhà nước; phải nghe giảng về tình hình tôn giáo Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong khi đó, ở lớp 10 thì “choáng” về những nội dung thuộc phạm trù triết học như: thế giới duy vật, phương pháp luận biện chứng, cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng… Cũng theo ông Quang, nhiều giáo viên cho rằng với những nội dụng về ĐĐ-GDCD như trên thì từ học sinh, giáo viên và cả cha mẹ học sinh sẽ bị sốc khi GDCD trở thành môn học bắt buộc sau một thời gian dài dạy và học theo kiểu đối phó, thờ ơ.

Đáng chú ý, tình trạng học sinh vi phạm các chuẩn mực đạo đức, pháp luật ở các lớp học càng lớn càng nhiều. Việc dạy học ĐĐ càng lên lớp cao, nội dung càng giảm. Trong đó, ở bậc tiểu học mỗi tuần có một tiết, THCS ½ tiết. Riêng THPT chỉ có 15 tiết cho cả ba năm học lớp 10, 11 và 12. TS Nguyễn Minh Toan (Trường đại học Sư phạm Hà Nội) rằng: Mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với thời gian học quá ít (1 tiết/tuần), phông kiến thức rộng trong khi giáo viên được đào tạo chuyên sâu một chuyên ngành hẹp… khiến môn GDCD trở thành áp lực đối với cả giáo viên và học sinh. Điều đáng nói là sau khi học phổ thông, sinh viên ở các trường chuyên nghiệp phải học lại phần lớn kiến thức trong môn GDCD bậc THPT gây nên sự lãng phí lớn cả về thời gian, công sức và tiền bạc. Mặc dù năm học 2011-2012, Bộ GD và ĐT đã có chỉ đạo giảm tải một số nội dung của chương trình sách giáo khoa môn GDCD nhưng chỉ thực hiện một cách cơ học khiến cho kiến thức môn học thiếu tính hệ thống.

Thứ trưởng Bộ GD và ĐT Nguyễn Vinh Hiển thừ nhận, dạy học ĐĐ - GDCD trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nặng về giáo dục chính trị, nhẹ giáo dục kỹ năng sống, coi trọng lý thuyết, chưa chú ý vận dụng, thực hành. Đáng chú ý, nhiều bài học còn khô khan, gượng ép, không phù hợp lứa tuổi và chưa gắn với việc làm và hành vi cụ thể trong đời sống đói với học sinh. “Hệ quả của những hạn chế khiến cho học sinh thiếu hứng thú trong học tập khiến cho mục tiêu dạy người qua môn học còn hạn chế. Tình trạng tiêu cực về ĐĐ và vi phạm của một bộ phận thanh, thiếu niên có một phần trách nhiệm thuộc về dạy, học ĐĐ- GDCD trong nhà trường”- ông Hiển chia sẻ.

Tránh dạy “lý thuyết suông”

Dạy học ĐĐ – GDCD vốn được coi là “môn phụ” nhưng thực tế lại là môn có tác động lớn đến việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện trẻ. Để giải quyết “tận gốc” những hạn chế, việc đổi mới CT, SGK và phương pháp giảng dạy là điều cần thiết. Hội nghị TƯ tám, Ban chấp hành TƯ Đảng khóa XI xác định “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học”. Điều đó cho thấy, việc đổi mới dạy ĐĐ-GDCD không chỉ là khắc phục những bất cập hiện nay mà cần thực hiện đúng mục tiêu “dạy người”, giáo dục nhân cách học sinh. Theo TS Đào Đức Doãn (Trường đại học Sư phạm Hà Nội) trong dạy học ĐĐ-GDCD cần lược bớt những nội dung khó, trừu tượng, hàn lâm, ưu tiên bổ sung những kiến thức thiết thực với cuộc sống như những vấn đề kinh tế- xã hội địa phương, những vấn đề nổi cộm trong cuộc sống cần giáo dục. Ngoài ra, riêng với môn ĐĐ-GDCD thì việc kiểm tra đánh giá bằng phương pháp thực hành là quan trọng, cần được thực hiện thường xuyên…

Từ thực tiễn giảng dạy, cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hà (Trường THPT Trần Đăng Ninh, Ứng Hòa, Hà Nội) thì cho rằng: Nội dung chương trình có thể giữ nguyên kết cấu như cũ nhưng đối với từng vấn đề cụ thể (từng bài) của các phần thì cần phân phối thời gian nhiều vào vấn đề thực tiễn học sinh quan tâm. Thí dụ chương trình lớp 10 có thể tăng thêm tiết cho phần giáo dục ĐĐ, giảm phần triết học. Ngoài ra, để giúp giáo viên thuận lợi trong việc “chế biến” tiết dạy của mình hấp dẫn, Bộ GD và ĐT cần biên soạn thêm sách tham khảo và đồ dùng trực quan cho môn học GDCD. Trong khi đó, cô giáo Huỳnh Thị Bích Mai (THPT Châu Văn Liêm - Cần Thơ) cho rằng: Bộ GD và ĐT cần đối xử công bằng với môn GDCD như đối với các môn học khác trong trường phổ thông.

Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (Phó vụ trưởng Vụ giáo dục Trung học, Bộ GD và ĐT): Trong dạy học ĐĐ-GDCD cần làm rõ những giá trị cơ bản của đạo lý dân tộc, đạo đức xã hội, trách nhiệm cộng đồng cung xnhư những giá trị cơ bản của triêt shọc Mác-Lê nin. Tuy nhiên, “những giá trị cơ bản” với các cấp học, ngành nghề khác nhau sẽ được lựa chọn nội dung phù hợp. Thí dụ học sinh tiểu học giáo dục ĐĐ chủ yếu thông qua các truyện đọc, truyện kể, tranh ảnh, băng hình… Giáo dục ĐĐ-GDCD trong đổi mới gắn với các môn học khác và các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Vì vậy, ngay từ khi thiết kế CT giáo dục phổ thông tới sẽ chú ý tích hợp giáo dục ĐĐ-GDCD vào tất cả các môn học. Việc đánh giá kết quả môn học theo định hướng phát triển năng lực, coi trọng vận dụng hiểu biết, hành vi, phép ứng xử chứ không chỉ là nói lý thuyết suông, nhớ máy móc.

Mạnh Xuân

(Xuân Kỳ)

ảnh: Học sinh Trường PTDTNT Yên Bái lao động ngoài giờ lên lớp

MẠNH XUÂN

Tin nóng

Tin mới