Đăng nhập

Đăng nhập để trải nghiệm thêm những tính năng hữu ích
Zalo

Bảo đảm quyền của người khuyết tật và người cao tuổi tại Việt Nam

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm các quyền và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi và người khuyết tật, công tác giám sát việc thực hiện Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật cũng được Quốc hội quan tâm để có căn cứ, cơ sở thực tiễn nhằm điều chỉnh chính sách, tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm thích ứng với già hóa dân số và tình trạng khuyết tật ngày càng gia tăng, thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền của đối tượng yếu thế nói chung, người cao tuổi, người khuyết tật nói riêng.

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm các quyền và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi và người khuyết tật, công tác giám sát việc thực hiện Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật cũng được Quốc hội quan tâm để có căn cứ, cơ sở thực tiễn nhằm điều chỉnh chính sách, tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm thích ứng với già hóa dân số và tình trạng khuyết tật ngày càng gia tăng, thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền của đối tượng yếu thế nói chung, người cao tuổi, người khuyết tật nói riêng.

 Quyền của người khuyết tật và người cao tuổi tại Việt Nam được bảo đảm.

Quyền của người khuyết tật và người cao tuổi tại Việt Nam được bảo đảm.

Pháp luật quốc tế và Việt Nam về quyền của người khuyết tật, người cao tuổi

Theo Điều 1 Công ước quyền của người khuyết tật (NKT), NKT được hiểu là “những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về NKT được xác định trong luật nhân quyền quốc tế. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của NKT.

Tại Việt Nam, việc bảo đảm các quyền của NKT luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm với các chính sách, pháp luật khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho NKT thực hiện bình đẳng về các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy khả năng của họ để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội.

Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng đối tượng được Nhà nước trợ giúp, không phân biệt NKT có hay không có nơi nương tựa; không phân biệt NKT là trẻ em hay không. Bên cạnh Hiến pháp còn có các văn bản pháp luật chuyên ngành, đặc biệt là Luật NKT năm 2010 đã đưa ra các quy định nhằm bảo đảm quyền của NKT.

Theo Luật NKT, ngoài những quyền cơ bản của công dân, NKT còn có các quyền như: tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được trợ cấp hằng tháng; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Một số hành vi nghiêm cấm khi đối xử với NKT: kỳ thị, phân biệt đối xử NKT, xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của NKT; lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc NKT thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội; lợi dụng NKT, tổ chức của NKT, tổ chức vì NKT, hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của NKT để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc NKT không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc theo quy định của pháp luật. Cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con của NKT. Gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết tật.

Như vậy, hệ thống pháp luật về NKT ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện theo hướng bảo đảm sự tương đồng với Công ước quốc tế về quyền của NKT. Hệ thống đó bao gồm: Luật NKT 2010, Luật Trợ giúp pháp lý 2006 và một số Luật khác như Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Công nghệ thông tin. Với việc ban hành Luật NKT năm 2010, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền của NKT.

Về người cao tuổi (NCT), hiện nay chưa có điều ước quốc tế chuyên biệt về NCT mà nội dung liên quan đến quyền và bảo đảm quyền của NCT chủ yếu được quy định ở một số công ước, khuyến nghị và bình luận chung của các Ủy ban giám sát công ước, các nghị quyết của Đại Hội đồng, Hội đồng Nhân quyền LHQ, các văn kiện được thông qua tại hội nghị toàn cầu.

Theo Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, những quyền cần bảo đảm đặc biệt cho NCT bao gồm: quyền bình đẳng (trước pháp luật và về giới), các quyền liên quan đến việc làm, quyền về an sinh xã hội, quyền được bảo vệ gia đình, quyền được hưởng tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền được chăm sóc sức khỏe và các quyền về giáo dục, văn hóa.

Ở Việt Nam, quyền của NCT Việt Nam được thể hiện trong Hiến pháp 2013, Luật Người cao tuổi 2009, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), Luật Khám chữa bệnh 2009, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007, Luật Việc làm 2009...

Những văn bản này tạo ra khung pháp lý vững chắc bảo đảm những quyền và lợi ích cơ bản của NCT. Trong đó, quan trọng nhất là Luật NCT đã xác định: “NCT là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”. Như vậy, độ tuổi được xem là NCT ở Việt Nam cơ bản tương đồng với độ tuổi được xác định bởi các cơ quan LHQ.

Quyền của NCT tại Việt Nam bao gồm một số quyền cơ bản sau đây: Quyền không bị phân biệt đối xử; quyền về an sinh xã hội; quyền có việc làm; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, xã hội; quyền được phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe; quyền được phát huy vai trò trong xã hội...

Thực trạng bảo đảm quyền của người khuyết tật, người cao tuổi

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, qua kết quả cuộc điều tra quốc gia về NKT tính đến năm 2016, Việt Nam có khoảng 6,2 triệu NKT từ 2 tuổi trở lên, chiếm 7,06% dân số, trong đó có khoảng 663.000 trẻ em khuyết tật từ 2 đến 17 tuổi. Nhiều năm qua được sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, cuộc sống của NKT đã từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt, kể từ khi Luật NKT 2010 được ban hành và có hiệu lực thì NKT Việt Nam đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực ở tất cả mọi phía. Song, việc bảo đảm quyền của NKT trên thực tế vẫn còn một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, hạn chế liên quan đến một số quyền của NKT. NKT vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức, rào cản trong việc tiếp cận và tham gia vào đời sống xã hội, khả năng hòa nhập của NKT nói chung, đặc biệt là ở khu vực nông thôn rất khó khăn. Các vấn đề liên quan tiếp cận giao thông, công trình công cộng, văn hóa, thể thao, du lịch hay như các vấn đề về chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, giáo dục, hỗ trợ sống độc lập… cho người NKT còn nhiều thách thức, tác động tiêu cực đến việc bảo đảm quyền của NKT.

Thứ hai, chưa bảo đảm tiếp cận toàn diện hệ thống giáo dục hòa nhập. Mặc dù Nhà nước đã có chính sách đầu tư để nâng cao năng lực cho NKT nhưng rất ít NKT có khả năng tiếp cận giáo dục đại học…

Liên quan đến bảo đảm quyền của NCT, hiện nay hệ thống pháp luật cũng như hệ thống cơ sở chăm sóc sức khỏe NCT bước đầu được hình thành và phát triển từ Trung ương tới địa phương, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến hệ thống chăm sóc y tế dành cho người già được triển khai ở hệ thống y tế trên toàn quốc.

Thực hiện các chính sách về BHYT, BHXH, trợ cấp xã hội về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu nhằm giảm chi phí khám chữa bệnh, đồng thời, bảo đảm mức sống cơ bản cho NCT, đặc biệt là người nghèo, người già neo đơn, NKT. Tuy nhiên, việc thực hiện nhóm quyền này trên thực tế còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, nhu cầu chăm sóc NCT về sức khỏe và tinh thần ngày càng lớn trong khi sự phát triển của các dịch vụ chăm sóc và cơ sở hạ tầng lại không tương xứng.

Thứ hai, xuất phát từ nhận thức của cơ quan, tổ chức, cộng đồng xã hội cũng như nhận thức của chính NCT về vấn đề chăm sóc NCT chưa tương xứng với yêu cầu của thực tiễn.

Thứ ba, việc triển khai các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền của NCT trên thực tiễn còn thiếu cơ chế linh hoạt để bảo vệ, thúc đẩy quyền của NCT.

Hiện nay, NCT tham gia BHYT vẫn ở tỷ lệ thấp, cơ sở bảo trợ xã hội chuyên chăm sóc, nuôi dưỡng NCT còn ít, trang bị còn thiếu thốn; mức trợ cấp xã hội còn thấp so với mức sống tối thiểu. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, giáo dục, du lịch, thể dục, thể thao, giao thông công cộng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn với điều kiện kinh tế còn rất hạn hẹp.

Các hoạt động công cộng gắn liền với quyền của NCT như tham gia giao thông công cộng, vé thăm bảo tàng, di tích văn hóa vẫn chưa thực hiện tốt một cách toàn diện. Đặc biệt, việc xây dựng các công trình dành riêng cho NCT theo xu hướng tiếp cận dựa trên quyền như lối đi riêng cho NKT, NCT trên phương tiện giao thông công cộng, khoa khám miễn phí riêng cho NCT, làn đường dành cho người đi bộ... vẫn còn rất hạn chế.

Bảo đảm tốt hơn quyền của người khuyết tật và người cao tuổi

Một là, hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến quyền của NKT: tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ và quy định về quyền của NKT sao cho phù hợp với Bộ luật Lao động, Luật NKT, Luật Việc làm, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Công ước quốc tế về quyền của NKT mà Việt Nam đã phê chuẩn.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền của NCT. Với sự tham gia ký kết, phê chuẩn và cam kết thực hiện rất nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, trong tư duy lập pháp cũng như nhận thức của người dân cần tiếp cận NCT gắn với quyền cụ thể là lấy quyền của NCT làm đối tượng để điều chỉnh pháp luật. Do vậy, hệ thống pháp luật của Việt Nam điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến NCT cần được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn nữa nhằm bảo đảm tốt nhất quyền của NCT.

Hai là, tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu về NKT (tổng số, tình trạng sức khỏe, dạng tật; số người trong độ tuổi lao động, còn khả năng lao động; số người có nhu cầu về nghề và học nghề của NKT; số người có nhu cầu làm việc và những công việc phù hợp với nhu cầu và sức khỏe của NKT…) ở từng địa phương và trong cả nước nhằm tạo cơ sở xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách.

Ba là, liên quan đến một số nhóm quyền của NKT. Cần bảo đảm tiếp cận giáo dục đầy đủ; loại bỏ các rào cản trong giáo dục, đặc biệt trong giáo dục đại học và đào tạo nghề. Bảo đảm các tiêu chuẩn trong xây dựng và giao thông công cộng tiếp cận cho NKT, cần quy định trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ không chỉ ở khu vực nhà nước mà cả trong khu vực tư nhân đối với lĩnh vực giao thông và xây dựng. Có chính sách hỗ trợ để tất cả NKT phải được đảm bảo quyền tiếp cập các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí, quyền tiếp cận với công lý bất kể điều kiện tài chính của họ để bảo đảm phù hợp với Luật NKT...

Bốn là, nâng cao ý thức, hiểu biết của các nhà quản lý, hoạch định chính sách cũng như cộng đồng về quyền của NCT. Tuyên truyền, vận động mọi người dân chủ động tham gia BHXH, bảo hiểm thân thể, BHYT; tiết kiệm chi tiêu, tích lũy cho tuổi già... Để nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền của NCT, cần có các chương trình truyền hình phát sóng trên các phương tiện thông tin truyền thông của Việt Nam phổ biến thông tin, kiến thức về quyền của NCT.

Năm là, đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc sức khỏe về thể chất và tinh thần của NCT. Xem xét xây dựng các chương trình cụ thể về tư vấn, hướng dẫn, bồi dưỡng và tập huấn kiến thức tự chăm sóc bản thân, nâng cao sự chủ động bảo vệ sức khỏe đối với NCT. Đồng thời, huy động nguồn vốn hỗ trợ để tiến hành xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và thành lập các lão khoa ở các bệnh viện cấp địa phương, khuyến khích khám chữa bệnh miễn phí cho NCT. Cần thực hiện các chính sách liên quan đến miễn/giảm giá vé tham quan, phí dịch vụ đối với NCT khi tham quan di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh, thể dục thể thao; tham gia giao thông công cộng. Đồng thời, khuyến khích NCT thành lập các câu lạc bộ văn hóa, tri thức, thể thao để NCT có cơ hội rèn luyện sức khỏe, sống vui, sống thọ và có đóng góp cho xã hội.

Như vậy, có thể thấy, về cơ bản pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhằm bảo đảm quyền của NKT và NCT. Đây là những đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương. Trong đó, đưa ra và xây dựng các chuẩn mực pháp lý nhằm bảo đảm quyền của hai đối tượng là nghĩa vụ mỗi quốc gia phải bảo đảm thực hiện trong mọi hoàn cảnh.

TS. Đỗ Quí Hoàng