Chìa khóa tăng trưởng của Nhật Bản

Gốc
KTĐT - Theo nhiều chuyên gia kinh tế Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đã đạt đến “ngưỡng trưởng thành” và rất khó tăng trưởng trong bối cảnh dân số ngày càng lão hóa, trong khi chi tiêu dùng cá nhân ngày càng giảm. Trong thời gian tới, nền kinh tế Nhật Bản chỉ có thể tăng trưởng dựa trên 3 biện pháp là: sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, thu hút các chuyên gia giỏi từ nước ngoài và đầu tư sang các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

Trong khoảng thời gian từ tài khóa 1991, khi bong bóng kinh tế bị vỡ, cho đến tài khóa 2008, GDP của Nhật Bản gần như không tăng. Nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này đã tránh được tăng trưởng âm chỉ đơn giản nhờ hiện tượng thiểu phát khi tỷ lệ tăng trưởng danh nghĩa trung bình chỉ là 0,4%. Trước đó, trong giai đoạn mà nền kinh tế Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng cao từ tháng 7/1958 cho đến tháng 10/1973, nền kinh tế này đã đạt tốc độ tăng trưởng thực tế bình quân lên tới 9,4%/năm. Có 4 nhân tố quan trọng mang lại 1 thập kỷ rưỡi tăng trưởng cao của Nhật Bản, đó là: Các nhà sản xuất đã liên tục tung ra thị trường các sản phẩm mới; Cho đến năm 1971, giá trị đồng yên được giữ ở mức thấp - khoảng 360 yên/USD theo hệ thống tỷ giá hối đoái cố định; giá dầu thô định giá bằng đồng USD quá thấp đến nỗi Nhật Bản có thể nhập khẩu và tiêu thụ dầu thô như nước lã; các công trình công cộng quy mô lớn đã được triển khai như hệ thống đường sắt cao tốc, đường cao tốc, hệ thống cầu nối các đảo Honshu và Shikoku, và hệ thống đường hầm dưới biển nối các đảo Honshu và Hokkaido. Hiện nay, bốn nhân tố trên đã không còn hoặc đã có thay đổi lớn. Mặc dù các sản phẩm mới đầy hấp dẫn vẫn tiếp tục được tung ra thị trường nhưng phần lớn đều là kỹ thuật số và không có nhiều ảnh hưởng đối với các ngành công nghiệp khác. Nó khiến cho chính phủ khó thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng cá nhân thông qua các chính sách tiền tệ và tài chính. Trong khi đó, giá trị đồng yên đang tăng dần lên mức 90 yên/USD kể từ khi tỷ giá hối đoái được thả nổi vào năm 1973. Sự bất ổn do biến động của tỷ giá hối đoái đã ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất. Các doanh nghiệp Hàn Quốc và Trung Quốc đang dần bắt kịp hoặc đã vượt qua các doanh nghiệp Nhật Bản trong một số lĩnh vực sản xuất. Mặc dù giá dầu thô giảm 70% với mức đỉnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ mùa Thu năm 2008 nhưng giá dầu đang tăng trở lại lên mức từ 75 đến 80 USD/thùng. Giá dầu thô cao làm tăng chi phí nhập khẩu dầu thô của Nhật Bản. Trong tài khóa 2008, cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ của Nhật Bản đã bị thâm hụt lần đầu tiên kể từ tài khóa 1980, khi nền kinh tế này bị ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Nhu cầu dầu thô tăng nhanh của Trung Quốc và Ấn Độ có thể sẽ khiến giá sản phẩm này tiếp tục tăng thêm. Trong khi đó, giá lương thực cũng có thể tăng do hiện tượng biến đổi khí hậu. Tất cả các nhân tố trên sẽ khiến cán cân thương mại (bằng kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập khẩu) của Nhật Bản bị thâm hụt và làm giảm tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu này. Trên thực tế, nền kinh tế Nhật Bản đã bị suy giảm 4,2% trong tài khóa 2008. Trong tài khóa này, GDP danh nghĩa của Nhật Bản chỉ là 494.000 tỷ yên so với con số 498.000 tỷ yên trong tài khóa 1995. Điều này đồng nghĩa với việc nền kinh tế Nhật Bản không tăng trưởng trong vòng 13 năm qua. Hiện nay, ở Nhật Bản, tiêu dùng cá nhân đang giảm. Trong khi đó, đầu tư của các doanh nghiệp có thể tiếp tục giảm do sự thay đổi cơ cấu từ các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu cơ bản sang chế tạo và lắp ráp, từ các ngành sản xuất sang ngành dịch vụ. Khẩu hiệu của Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama về việc chuyển trọng tâm “từ xây dựng các cơ cấu cụ thể sang phát triển nguồn nhân lực” cho thấy sự thay đổi chính sách trong dài hạn. Tuy nhiên, sự thay đổi chính sách này có thể sẽ không giúp vực dậy nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này ngay lập tức. Một điểm đáng lưu ý, đó là tỷ lệ chi cho lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu và chăm sóc y tế trong tổng GDP của Nhật Bản thấp hơn rất nhiều so với bất cứ quốc gia công nghiệp phát triển nào khác.Nền kinh tế Nhật Bản đang đạt tới “ngưỡng trưởng thành”. Người tiêu dùng trở nên tỉnh táo hơn về giá cả và chất lượng, và có thể sẽ cắt giảm việc mua những hàng hóa có thương hiệu và ăn ở những nhà hàng sang trọng. Thế hệ trẻ không còn quan tâm nhiều tới việc đi ra nước ngoài hay mua ô tô như họ đã từng làm trong quá khứ. Tuy nhiên, chi cho dược phẩm và chăm sóc y tế sẽ tăng bởi vì dân số Nhật Bản tiếp tục già đi. Các gia đình trẻ tuổi đang chi nhiều tiền hơn cho việc chăm sóc bố mẹ. Tỷ lệ sinh giảm và tỷ lệ người già đang tăng sẽ làm giảm chi tiêu hàng hóa và dịch vụ, ngoại trừ chi cho dược phẩm và chăm sóc sức khỏe. Dân số Nhật Bản đang giảm và dự báo có thể sẽ giảm xuống dưới 90 triệu người vào năm 2055. Người ta dự báo những người trên 65 tuổi sẽ chiếm tới 40,5% dân số Nhật Bản vào năm 2055. Vì vậy, thật khó có thể hy vọng vào tăng trưởng kinh tế về mặt GDP. Hiện chỉ có 3 con đường để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản là: Chính phủ khuyến khích mua các sản phẩm thân thiện với môi trường, trong đó có các xe ô tô điện, các xe ô tô lai, thiết bị thắp sáng bằng đèn LED, các pin nhiên liệu cố định và các ngôi nhà bảo tồn năng lượng; Tăng đầu tư vào các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, qua đó làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm của Nhật Bản; thu hút các chuyên gia từ các nước khác tới định cư ở Nhật Bản để bù đắp việc dân số giảm. Nhật Bản cần tích cực hơn trong việc mở cửa cho các học giả, các nhà nghiên cứu, các bác sỹ, y tá, luật sư và các kiến trúc sư./. Phương Linh

Tin nóng

Tin mới