Chủ động quản lý tài nguyên nước tại ĐBSCL

Gốc
Trước những diến biến phức tạp, khó lường từ nguồn nước, để phát triển bền vững vùng ĐBSCL, cần phải có tầm nhìn mới về qui hoạch và quản lý tài nguyên nước.

Chủ động quản lý tài nguyên nước tại ĐBSCL - Ảnh 1

Cần Thơ là đô thị trung tâm vùng ĐBSCL đã và đang lệ thuộc, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn nước mặt đến từ ngoài biên giới.

ĐBSCL dường như đang lâm vào thế bị động do không đoán định được các tình huống nguồn nước tác động đến môi trường, sinh thái, điều kiện sản xuất, sinh hoạt của cộng đồng đang lệ thuộc vào nguồn nước từ hai chi lưu của dòng Mekong (sông Tiền, sông Hậu). Cùng với đó, hầu như tổng lượng nước mặt (khoảng trên 50 tỉ m3/năm) chảy vào ĐBSCL từ ngoài biên giới.

Diễn biến phức tạp của xâm nhập mặn có tính lịch sử trong mùa kiệt vừa qua gây thiệt hại nặng nề tại ĐBSCL đã thể hiện rõ mức độ nhạy cảm trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) có sự khống chế về nguồn nước trên dòng Mekong từ các công trình thủy điện ở thượng lưu. Chất lượng nguồn nước (phù sa, mặn, phèn, ô nhiễm) biến động khó lường.

Theo ghi nhận của ông Trần Thế Như Hiệp (Viện Kinh tế - Xã hội, UBND TP.Cần Thơ), lưu lượng nước trên sông Mekong mùa kiệt trong quá khứ là 2.500m3/s nay đã giảm chỉ còn 1.600m3/s. Do đó, gây khô hạn đối với các địa phương thượng nguồn của TP. Cần Thơ (quận Thốt Nốt), đồng thời giảm đối lực nên nước biển lấn sâu vào tới quận Cái Răng.

Lần đầu tiên trong lịch sử mặn trào ngược theo sông Hậu lấn gần tới bến Ninh Kiều, uy hiếp tình hình sản xuất, sinh hoạt cư dân thành phố trung tâm vùng ĐBSCL.

Theo PGS.TS Nguyễn Hiếu Trung (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu BĐKH kiêm Trưởng Khoa Quản lý tài nguyên nước ĐH Cần Thơ), phải thấy rằng chế độ lũ đã thay đổi do thay đổi khí hậu, các công trình thượng nguồn Mekong dẫn đến dòng chảy mùa kiệt suy giảm và triều cường dẫn đến xâm nhập mặn.

Trong khi đó, việc thực hiện các giải pháp thích ứng thực tế tại các địa phương vùng ĐBSCL không mấy hiệu quả.

Cụ thể, trên bình diện toàn vùng, việc ngăn lũ thượng nguồn (bờ bao, đê sông, cống, đập) đã tác động đến tình trạng thu hẹp dòng chảy, giảm vùng trữ nước dẫn đến tăng cột nước, tăng vận tốc dòng chảy và dẫn đến xói lở dáy và bờ sông/kênh, vỡ đê… ở hạ lưu. Còn ở các đô thị, việc bê tông hóa đã làm giảm thấm, tăng chảy tràn, xói ngầm, gây ngập cục bộ, hư hỏng cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng đến dịch vụ, chất lượng cuộc sống người dân đô thị.

Do vậy, ông Nguyễn Hiếu Trung cho rằng vấn đề đặt ra là phải hiểu bản chất của sự thay đổi để xây dựng chiến lược thích ứng phù hợp. Nếu tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo kiểu bê-tông hóa đô thị và tiếp tục ngăn lũ ở thượng nguồn mà không đầu tư cho việc tăng khả năng chống chịu với BĐKH thì đô thị ở ĐBSCL sẽ không thể nào tồn tại thích ứng.

PGS.TS Nguyễn Hiếu Trung cho rằng cần có tầm nhìn mới về qui hoạch và quản lý ĐBSCL. Theo đó, ở đầu nguồn nên tạo vùng trữ lũ dọc theo sông và kênh rạch chính. Nên có các vùng bảo tồn và chỉ sản xuất hai vụ lúa; xây dựng khu sinh thái, nuôi trồng thủy sản kết hợp tạo cảnh quan làm du lịch. Với đô thị thì nên xây dựng “đô thị xanh”, thí dụ tăng được lượng trữ nước mưa trong tán cây, thấm xuống đất hay nên có công trình trữ nước mưa…

Chủ động quản lý tài nguyên nước tại ĐBSCL - Ảnh 2

Thị xã Long Mỹ (Hậu Giang) thường xuyên bị xâm nhập mặn vào mùa kiệt vì lưu lượng nước trên sông Mekong giảm mạnh.

Chú trọng công tác qui hoạch xây dựng đô thị

Tại hội thảo chia sẻ kinh nghiệm xây dựng khả năng chống chịu với BĐKH ở đô thị vùng ĐBSCL, TS.KTS Trần Thị Lan Anh, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) cho rằng một trong những giải pháp căn cơ nhằm thích ứng với BĐKH, nước biển dâng là phải tôn trọng qui luật chuyển động của nước trong vùng một cách chủ động, thân thiện nhất.

Do vậy, để tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu thì qui hoạch xây dựng đô thị phải đi trước một bước, nhất là cần áp dụng giải pháp qui hoạch đô thị “dành chỗ cho nước” ở ĐBSCL.

Theo giải pháp này, chúng ta phải có một “qui hoạch nước”; phải chủ động hơn nữa trong việc kết hợp với qui hoạch thủy lợi/tưới tiêu, đồng thời phải xác định được các vùng chứa nước, thoát nước cho các mùa mưa lũ, triều cường… phù hợp với qui luật tự nhiên và có tính chủ động trong việc điều tiết, kiểm soát nguồn nước.

Cũng theo bà Lan Anh, công tác qui hoạch khoanh vùng bảo vệ hệ thống sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, hệ thống kênh rạch… các khu rừng quốc gia U Minh Thượng, U Minh Hạ, vùng biển Tây, Biển Đông, các không gian nông nghiệp, không gian trống trong vùng tạo nên các lưu vực cấp thoát nước chính, các không gian mở có khả năng dung nạp, điều tiết nước các mùa trong năm… có ý nghĩa chiến lược, dài lâu.

Trong qui hoạch đô thị cần bảo đảm bảo sự cân bằng hệ địa-kinh tế - sinh thái trong cấu trúc đô thị; tôn trọng “cấu trúc đô thị nước”; khi chọn đất qui hoạch đô thị phải phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên, coi trọng cấu trúc tự nhiên trong qui hoạch đô thị như một yếu tố cấu thành bảo đảm sự phát triển bền vững và lồng ghép giải pháp qui hoạch hạ tầng kỹ thuật với giải pháp quản lý nước mặt trong đô thị nhằm tạo cấu trúc đô thị thích ứng với BĐKH, nước biển dâng…

Hùng Long

Share on Tumblr

Tin nóng

Tin mới