Chuyển đổi đại học dân lập sang tư thục: Giải pháp cho tài sản chung

Gốc
(DĐDN) - Sau khi Báo DDDN đăng tải một số bài viết về vấn đề chuyển đổi đại học (ĐH) dân lập sang tư thục, DĐDN đã nhận được nhiều sự quan tâm của các trường đại học ngoài công lập, trong đó, hiệu trưởng một trường ĐH dân lập tại TP HCM (đề nghị không nêu tên) đã kiến nghị 4 nhóm giải pháp cho vấn đề này.

Do không có cách xử lý tài sản chung nên tới nay nhiều trường ĐH dân lập

vẫn chưa thể chuyển sang tư thục (Ảnh: Trường ĐH Văn Hiến)

Một là, tài sản chung của trường dân lập là thuộc sở hữu của tập thể người góp vốn, (cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu của trường). Do đó, việc xử lý tài sản chung phải hỏi ý kiến tập thể này.

Cụ thể, phải niêm yết công khai kết quả định giá tài sản của trường; Trường tổ chức cho các thành phần của tập thể chủ sở hữu thảo luận về việc sử dụng tài sản chung của họ như thế nào để vừa tuân thủ Nghị định 69 (không chia cho cá nhân), vừa đảm bảo nhà trường ổn định khi chuyển sang loại hình tư thục.

Với những trường có tài sản chung nhỏ thì không có đủ nguồn để bảo toàn vốn cho nhà đầu tư. Khi đó tập thể sở hữu chủ sẽ dễ nhất trí với phương án mời “nhà đầu tư chiến lược” có khả năng bỏ vốn vào thực hiện cuộc “bảo toàn vốn” và tập thể sẽ đồng thuận để “nhà đầu tư chiến lược” nắm giữ quyền lãnh đạo trường khi chuyển sang tư thục. Một khi tập thể nhà trường đã đồng thuận thì trường sẽ dễ ổn định khi sang tư thục. Cuộc chuyển đổi sẽ thành công.

Bên cạnh đó, với những trường có tài sản chung lớn so với vốn góp của các nhà đầu tư, đủ khả năng thực hiện bảo toàn vốn, thì sau khi tập thể thảo luận và đồng ý với phương án bảo toàn vốn cho các nhà đầu tư, phải xin ý kiến Thủ tướng. Nếu được Thủ tướng cho phép thì mới được dùng tài sản chung làm nguồn để bảo toàn vốn cho các cá nhân nhà đầu tư.

Hai là, sau khi đã trích một phần thực hiện bảo toàn vốn cho các nhà đầu tư, phần còn lại của tài sản chung vẫn là của tập thể nhà đầu tư, cán bộ, giảng viên, nhân viên cơ hữu trường dân lập (gọi tắt là tập thể). Giá trị (còn lại của) tài sản chung này hạch toán vào vốn sở hữu chủ của trường dân lập, với chủ sở hữu là tập thể. Việc này cần thực hiện với sự hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Tài chính (vì chắc chắn phải đóng thuế).

Việc làm này hoàn toàn không phải là “ cổ phần hóa ” vì tài sản chung không chia cho ai mà đưa toàn bộ, để nguyên vẹn (cả gói) vào vốn chủ sở hữu. Tên chủ sở hữu là “tập thể”, bao gồm cả nhà đầu tư. Ở giai đoạn này, chưa chia tài sản chung thành cổ phần.

Thông thường, khi chưa phải chuyển đổi thì ở tài khoản vốn chủ sở hữu của trường dân lập chỉ có vốn góp của các nhà đầu tư, với tên chủ sở hữu là các cá nhân (hoặc tổ chức) có góp vốn đàu tư ban đầu và góp vốn trong quá trình hoạt động.

Hạch toán như trên không trái với quy định tại Điều 5, Khoản 1, Điểm Đ của Nghị định 141, vì ở nội dung này Nghị định 141 quy định về “Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia của cơ sở giáo dục đại học tư thục” chứ không nói về việc hạch toán tài sản chung của trường dân lập.

Tài sản chung của trường dân lập là thuộc sở hữu của tập thể người góp vốn, do đó, việc xử lý TSC phải hỏi ý kiến tập thể này.

Vì tập thể đã được thảo luận và đã biết việc đưa tài sản chung của họ vào vốn chủ sở hữu là để sau này chuyển sang góp cho trường tư thục, nên họ biết rõ tài sản chung của họ đang ở đâu, biết rõ họ vẫn có quyền đồng sở hữu tài sản đó nên trường sẽ ổn định trong giai đoạn chuyển đổi.

Ba là, quy định giá trị tài sản chung của trường dân lập được chuyển thành vốn điều lệ khi chuyển sang tư thục. Đại diện phần vốn này trong đại hội đồng cổ đông như quy định trong Quy chế 63. (Riêng về cổ tức thì xin điều chỉnh quy định của Quy chế 63 như giải pháp 4 dưới đây).

Bốn là, căn cứ Điều 5, khoản 5 Nghị định 141/2013/NĐ-CP, kiến nghị Bộ Tài chính ban hành quy định nguyên tắc và phương pháp hạch toán đối với trường tư thục theo hướng: Cổ tức của phần vốn hình thành từ giá trị của tài sản chung do trường dân lập chuyển sang không được rút ra và được bổ sung vào “vốn thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia của trường tư thục”.

Hạch toán như trên là không tuân thủ quy định của Thủ tướng tại Quy chế 63 (là bổ sung cổ tức ngay vào vốn điều lệ), nên cần phải có quy định của Bộ Tài chính, theo thẩm quyền đã được Chính phủ giao trong Nghị định 141. Nếu có nội dung nào vượt thẩm quyền, việc xin phép Thủ tướng thuộc trách nhiệm của Bộ Tài chính.

Hạch toán như trên thì vốn của Tập thể trong vốn điều lệ không lớn lên, không xảy ra tình trạng vốn của các cổ đông cá nhân bị lấn át, “khiến cho nhà đầu tư nản lòng” như có ý kiến từng lo ngại.

Vì tỷ lệ giữa vốn của tập thể và vốn của các cá nhân trong vốn điều lệ không đổi thì quyền quyết định trong đại hội đồng cổ đông cũng không thay đổi theo thời gian. Đồng thời, cũng không dẫn đến nguy cơ “nhà đầu tư cá nhân dần mất quyền kiểm soát để rồi quyền quyết định rơi vào tay chỉ một người duy nhất” như có ý kiến từng cảnh báo.

Nguyễn Thành lược ghi

Tin nóng

Tin mới