Chuyên gia môi trường lo ngại trước dấu hiệu sông Tô Lịch 'hồi sinh'

Gốc
Mặc dù nhiều người dân sinh sống trong khu vực đều đánh giá sự hồi sinh tích cực từ đoạn sông Tô Lịch được thí điểm xử lý ô nhiễm, nhưng chuyên gia môi trường lại bày tỏ nhiều lo ngại về tính bền vững, chi phí, hệ thống xả thải của thành phố...

Như Báo Gia đình & Xã hội đã ghi nhận, mặc dù hai điểm xử lý thí điểm nước ô nhiễm mới được đặt xuống lòng sông Tô Lịch và một góc hồ Tây chỉ khoảng 3 ngày nhưng nhiều người dân sinh sống trong khu vực đã cảm nhận rõ là mùi hôi thối bốc lên từ dòng sông đã dịu hơn, nước trong hơn và giảm dần những mảng keo đóng trên bề mặt nước.

ThS. Đỗ Thanh Bái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VRCC trả lời Báo Gia đình & Xã hội về công nghệ nano.

Trước những dấu hiệu tích cực trong công tác xử lý nước ô nhiễm, PV Báo GĐ&XH đã có cuộc phỏng vấn Th.S Đỗ Thanh Bái, chuyên gia môi trường, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Hóa học Việt Nam về công nghệ Nano hiện nay.

Th.S Đỗ Thanh Bái cho rằng, bản thân ông và các chuyên gia khác đều rất hoan hỉ với định hướng làm sạch sông Tô Lịch, mặc dù với số ít thông tin ít ỏi về dự án thì chưa đủ cơ sở, kết quả để đánh giá.

Vùng thượng lưu sông Tô Lịch được người dân khu vực đánh giá là chuyển biến cực.

Th.S Đỗ Thanh Bái phân tích: "Theo những thông tin ban đầu cho thấy, đây là công nghệ nano để làm sạch nước. Công nghệ này sử dụng vật liệu có kích thước rất nhỏ, có thể ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khoa học, công nghiệp, đời sống khác nhau và mang lại hiệu quả tốt.

Sông Tô Lịch và hồ Tây là hai nơi bị ô nhiễm chủ yếu bởi hệ thống nước thải sinh hoạt, một phần có nước thải công nghiệp. Tôi nghĩ ta sẽ sử dụng 2 vật liệu, vật liệu đầu tiên là oxy ở dạng nguyên tử hoặc phân tử có kích thước rất nhỏ. Công nghệ này rất khác với công nghệ truyền thống là cũng dùng oxy, nhưng hạt oxy có tính chất khuếch tán, tính chất tương tác với các chất ô nhiễm nằm trong lòng nước chiếm nhiều thời gian hơn, hiệu quả cũng thấp hơn, chi phí đầu tư lớn hơn.

Vai trò của oxy nguyên tử có kích thước rất nhỏ sẽ tăng hiệu quả của quá trình oxy hóa các chất, đặc biệt là các chất hữu cơ, chất gây mùi. Có lẽ, chỉ một thời gian ngắn tới, lượng mùi bốc lên từ khu vực được đặt máy xử lý sẽ giảm đi vì nguyên tử oxy này triệt tiêu các chất có mùi rất hiệu quả.

Vật liệu thứ hai mà tôi cũng kỳ vọng sẽ được sử dụng trong hệ thống lọc, đó chính là các vật liệu lọc kích thước nano. Nano hiện nay có khả năng dùng ở 3 dạng. Một là chất xúc tác làm oxy hóa các chất độc trong nước, làm nước trong. Hai là sử dụng các màng lọc kích thước nhỏ để loại trừ màu, kim loại nặng khác nhau gây độc tính cho nước. Ba là vật liệu tạo màng lọc có kích thước nano phải tạo nên điều kiện cho các phản ứng oxy hóa, không phải chỉ oxy mà chính bởi các tâm hoạt tính trên các màng nano này.

"Như vậy, 3 yếu tố trên kết hợp lại với nhau tạo thành một nhà máy xử lý nước thải thông thường. Đối với một nhà máy nước thải thông thường theo phương pháp truyền thống thì bao giờ nước cũng được thu về rồi lọc sơ bộ, đưa ra phản ứng keo tụ, phản ứng oxy hóa bậc 1, bậc 2…, cuối cùng là tạo ra dòng nước sạch như đã thấy. Thậm chí có thể uống được. Toàn bộ quy trình thực hiện trên khối thiết bị lọc nhỏ gọn như đang đặt tại sông Tô Lịch, là tiến bộ công nghệ hiện đại", ông Bái cho hay.

Chiếc máy xử lý nước ô nhiễm được thí điểm tại một góc Hồ Tây.

Hình ảnh ô nhiễm tại Hồ Tây, khu vực ngoài phạm vi biệt lập thí điểm máy xử lý ô nhiễm.

Ngoài những hồi hộp, tin tưởng thì Th.S Đỗ Thanh Bái cũng lo lắng, bởi về mặt nguyên tắc, việc xử lý chất ô nhiễm nói chung và nước thải nói riêng phải "chặt" được nguồn ô nhiễm từ đầu nguồn là các dòng thải, nhánh thải vào sông Tô Lịch.

"Công nghệ này có thể sử dụng để xử lý trong 1 thời gian nhất định nhưng nếu không kiểm soát các dòng thải, sông Tô Lịch và hồ Tây lại vẫn tiếp tục chịu một tải lượng ô nhiễm rất lớn đổ vào thì liệu có thể duy trì được bao lâu? Như vậy, tính bền vững của công nghệ sẽ ra sao? Đặc biệt trong bối cảnh, nước thải ở sông Tô Lịch có rất nhiều chất rắn lơ lửng. Vậy thì, sau khi sử dụng mà bị kém hiệu quả thì việc xử lý màng lọc được thực hiện ra sao, ai sẽ làm công việc này, làm trong khoảng bao lâu? Ngoài ra còn vấn đề chi phí cho công nghệ này", ông Bái cho hay.

Th.S Đỗ Thanh Bái trong buổi trả lời PV Báo Gia đình & Xã hội.

"Tuy nhiên, chúng ta nên hy vọng. Vì đây không phải là công nghệ quá mới, đã được áp dụng ở một số nước, tuy nhiên tùy thuộc nguồn chất thải ở nước ta mà sẽ mang tới hiệu quả khác nhau. Việc áp dụng công nghệ nano sẽ được dư luận ủng hộ, thậm chí là cùng chính phủ đóng góp nguồn lực cho việc nhân rộng mô hình, nếu như những thông tin chi tiết về công nghệ này được công khai, minh bạch", ông Bái mong muốn.

Bảo Loan