Đề nghị thu hẹp biên độ chịu thuế tài nguyên

Gốc
(TBKTSG Online) - Khung thuế suất với các loại tài nguyên theo dự thảo Luật thuế tài nguyên đang trình Quốc hội bị đánh giá là quá rộng và còn nhiều quy định khác chưa rõ ràng dẫn đến việc tăng cường quản lý tài nguyên khoáng sản qua luật này chưa thật minh bạch.

Ngọc Lan Một điểm khai thác khoáng sản tại Yên Bái. Cảnh quan nơi đây đã bị phá nát mà các doanh nghiệp khai thác không tính chuyện hoàn thổ. Ảnh: K.T.L Biểu khung thuế suất thuế tài nguyên mới được sửa đổi năm 2008 đang tiếp tục được sửa đổi cho sát với tình hình thực tế hơn và dự định sẽ được Chính phủ áp dụng từ ngày 1-7-2010. Lý do của việc sửa đổi này nhằm tăng cường việc quản lý của nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên, đặc biệt là khi nguồn tài nguyên, khoáng sản trong nước ngày càng cạn kiệt do khai thác bừa bãi và quản lý thiếu chặt chẽ. Hơn nữa, các bài học về giá năng lượng, nguyên liệu đầu vào trên thế giới đột ngột tăng cao năm 2008 do khủng hoảng kinh tế đã khiến nhiều quốc gia phải thay đổi chính sách ”đối xử” với tài nguyên, khoáng sản theo hướng kiểm soát chặt và tăng tích trữ hơn. Chính phủ cho biết là từ năm 2005 đến năm 2008, mỗi năm ngân sách thu được trên 23.200 tỉ đồng từ thuế tài nguyên, chiếm 15% tổng thu ngân sách nhà nước từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Nhưng phần lớn số thuế thu được hàng năm (95,5%) là thu từ dầu khí. Thuế thu được từ các tài nguyên khác chỉ khoảng 1.000 tỉ đồng (4,5% tổng thu). Chính phủ trình khung thuế suất mới, theo đó mục đích là tài nguyên không có khả năng tái tạo thì thuế suất cao, có khả năng tái tạo thì thuế suất thấp hơn và không có mức thuế suất 0%. Theo đó, có 7 nhóm đối tượng tài nguyên, khoáng sản phải chịu thuế và khung thuế suất dao động trong biên độ từ 5% đến 30% (trừ dầu khí mức ”Chủ yếu khoáng sản của ta bán cho Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc mua khoáng sản rất nhiều về làm thành các mỏ nhân tạo và chờ đến thời điểm sau này. Nếu tốc độ phát triển kinh tế thế giới như hiện nay, sau năm 2050 thế giới sẽ đi vào khủng hoảng thiếu khoáng sản, thiếu nguyên liệu đầu vào. Luật thuế và biểu thuế tài nguyên mới tiếp cận từ góc độ thu ngân sách. Do vậy, cần tiếp cận quan điểm khác là quan điểm khai thác và sử dụng tiết kiệm, phải đưa mức thuế cao hơn để sàng lọc các doanh nghiệp đủ năng lực khai thác và chế biến. Thời gian qua, việc xin khai mỏ ở các địa phương rất dễ, đến khi xin được rồi, rất nhiều doanh nghiệp khai thác tùy tiện, xuất bán thô, không qua chế biến” (Bộ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường Phạm Khôi Nguyên) cao nhất theo dự thảo có thể lên đến 40%). Thẩm tra về khung thuế suất, Ủy ban Tài chính-ngân sách của Quốc hội cho rằng, khung thuế như vậy là biên độ khá rộng, không đảm bảo tính chặt chẽ trong việc quy định thuế suất, có thể dẫn đến sự thiếu công bằng, chênh lệch lớn trong cùng một nhóm hàng và đây có thể là khe hở cho các cán bộ tính thuế, phân loại nhóm hàng có thể lợi dụng để mưu cầu lợi ích riêng, làm thất thu ngân sách. Ủy ban này yêu cầu thu hẹp biên độ khung thuế suất, đồng thời phân loại quy định chi tiết từng mặt hàng trong cùng một nhóm hàng để quy định các mức thuế riêng biệt. Phát biểu tại các cuộc thảo luận tổ trong ngày 21-10, rất nhiều ý kiến của các đại biểu Quốc hội đều thống nhất đề nghị phải thu hẹp biên độ chịu thuế và xem lại một số mức thuế. ”Tôi đề nghị biên độ thuế suất nên rút ngắn để tránh tiêu cực, càng rộng bao nhiêu càng dễ xảy ra tình trạng xin cho. Càng chính xác, càng thuận lợi khi thực hiện”, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên- môi trường Phạm Khôi Nguyên, đại biểu đoàn Hà Nội nói. Nhiều đại biểu khác đề nghị nâng mức thuế suất trần đối với các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo, thậm chí có thể cao hơn mức 30% đến 40% so với dự thảo luật (nhóm hàng dầu thô). Riêng Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên đề nghị trong việc tính thuế đồng thời phải tính xa hơn đến các nguồn năng lượng, tài nguyên có thể tái tạo nhưng trong nhiều năm tới cũng bị cạn kiệt. Ví dụ như nguồn tài nguyên nước các loại mà dự thảo luật đề xuất khung từ 1% đến 10% cũng cần phải nâng cao hơn nữa. ”Nhiều quan niệm cho rằng nước là của trời cho nên vấn đề kinh tế về nước chưa được quan tâm nhiều. Ở Pháp, thuế thu cho ngân sách từ nước là 10%, các nước EU là 7% còn ở Việt Nam, nhiều khung thuế gần như cho không. Sắp tới, tình trạng biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với các nước ở khu vực thượng lưu sử dụng nước nhiều thì Việt Nam có thể lâm vào hoàn cảnh thiếu nước”. Ông Nguyên phân tích là Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á đang khai thác tối đa các đập thủy điện trên sông Mê Kông, có thể ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp nước cho vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long trong những năm sắp tới, ảnh hưởng qua cả việc đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu gạo. Hoặc nếu Thái Lan chuyển dòng nước sông Mê Kông vào khai thác ở cực bắc thì sông Mê Kông sẽ mất 40% đến 60% lượng nước và 40% lượng phù sa, ảnh hưởng đến việc sử dụng nước từ dòng sông này của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Hay nói khác đi nếu không có cơ chế tiết kiệm và điều tiết việc sử dụng nước bằng các cơ chế, chính sách hiệu quả khác thì chuyện thiếu nước cũng là ảnh hưởng đến nền kinh tế. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền cho rằng trong việc đối xử với tài nguyên, khoáng sản và năng lượng, việc làm sao khai thác và sử dụng có hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm cho các thế hệ mai sau mới là cái đích cuối cùng. ”Việc quản lý ấy phải được thực hiện đồng bộ trong quy hoạch, kế hoạch khai thác và cấp phép đến khi sử dụng. Thuế chỉ là một công cụ mà thôi”, ông Hiền nói.

Tin nóng

Tin mới