Định hình lại vai trò cửa ngõ giao thương của 'đầu tàu phía Nam'

Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang là cực tăng trưởng với quy mô GRDP chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP cả nước. Tuy nhiên, để phát huy hết tiềm năng và khắc phục hạn chế còn tồn tại, cần xác định lại vai trò, vị trí của Vùng.

Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 và Kết luận số 27-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị. Ảnh: VGP

Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 và Kết luận số 27-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị. Ảnh: VGP

Diện mạo thay đổi sau 17 năm kiên trì đổi mới

Sau 17 năm thực hiện Nghị quyết 53 và Kết luận số 27, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung và vùng Đông Nam Bộ nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, qua đánh giá sơ bộ đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Ngày 9/7, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) phối hợp với Thành ủy, UBND TP HCM, Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 và Kết luận số 27-KL/TW ngày 2/8/2012 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Hội nghị nhằm đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân triển khai thực hiện Nghị quyết 53 và Kết luận 27 của Bộ Chính trị, từ đó đề ra mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đối của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Đông Nam Bộ.

“Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 53 và Kết luận số 27 thể hiện sự quan tâm đặc biệt và là chủ trương có ý nghĩa chiến lược nhằm huy động cao nhất các nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng Đông Nam bộ để phát triển mạnh, đi đầu cả nước, là cầu nối để hội nhập, hợp tác kinh tế có hiệu quả với các nước trong khu vực”, Thủ tướng đánh giá.

Làm rõ hơn những kết quả mà Vùng đã đạt được sau thời gian thực hiện Nghị quyết, Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, sau 17 năm thực hiện Nghị quyết 53 và kết luận số 27, các nhiệm vụ, giải pháp, chỉ tiêu đề ra đã được các Bộ/ngành và cơ quan trong Vùng triển khai thực hiện tích cực, góp phần đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Vùng và cả nước.

Vùng tiếp tục là cực tăng trưởng với quy mô GRDP chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP cả nước, vượt mục tiêu đặt ra. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng hiện đại.

Ảnh: Bộ KH&ĐT

Ảnh: Bộ KH&ĐT

Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng

“Vùng đã hình thành trung tâm công nghiệp hàng đầu của Việt Nam, đóng góp tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, tạo việc làm, thu ngân sách nhà nước. Đồng thời, Vùng đang dần trở thành ‘bệ đỡ’ cho phát triển vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Là cửa ngõ giao thương của khu vực phía Nam và của Việt Nam với khu vực, thế giới”.

Theo Bộ trưởng Dũng, diện mạo đô thị trong Vùng đang ngày càng đổi mới, hiện đại; tốc độ đô thị hóa nhanh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong vùng.

Cùng với đó, văn hóa, xã hội có bước phát triển khá và đạt trình độ cao so với mặt bằng chung của cả nước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo cao ở mức hàng đầu cả nước, thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước. TP HCM dần trở thành trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ thông tin của vùng và cả nước.

Bên cạnh đó, công tác cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Vùng đã có bước chuyển biến tích cực. Công tác xây dựng Đảng được quan tâm. Quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố.

Nâng cao nhận thức, đưa Vùng phát triển xứng tiềm năng

Tuy đạt được những kết quả đáng khích lệ trong thời gian qua nhưng Bộ trưởng KH&ĐT cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế còn tồn tại của Vùng, nhiều chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ trọng đóng góp vào GDP của cả nước, tốc độ tăng năng suất lao động, thu ngân sách nhà nước còn chưa đạt được.

“Công nghiệp phát triển nhanh nhưng thiếu tính bền vững và đồng bộ. Kết cấu hạ tầng vùng, liên vùng còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Hệ thống giao thông quá tải, tắc nghẽn. Tình trạng ngập úng thường xuyên. Ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Một số công trình trọng điểm như sân bay Long Thành (giai đoạn 1), di dời cảng trong khu vực TP HCM, nâng cấp các tuyến đường sắt hiện còn chậm tiến độ so với mục tiêu đề ra”, Bộ trưởng Dũng chỉ ra.

Đặc biệt, Bộ trưởng KH&ĐT lưu ý liên kết giữa các địa phương trong Vùng chưa chặt chẽ, còn hình thức, liên kết nội Vùng và liên Vùng chưa có tính chiến lược, lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh Vùng.

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung mọi điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế. Ảnh: VGP

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung mọi điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế. Ảnh: VGP

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, ông Dũng cho rằng, nguyên nhân chủ yếu đến từ nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Vùng còn chưa cao.

“Mục tiêu đề ra trong Nghị quyết khá cao trong khi nguồn lực còn hạn chế và chưa dự báo chính xác được những tác động của các yếu tố bất lợi từ bên ngoài để có các giải pháp ứng phó, khắc phục kịp thời, hiệu quả”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhìn nhận.

Ngoài ra, người đứng đầu Bộ KH&ĐT còn đánh giá quy hoạch Vùng và quy hoạch các địa phương trong Vùng chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu sự liên kết, thống nhất. Tổ chức thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế và bất cập. Thiếu cơ chế chính sách để huy động hiệu quả nguồn lực đầu tư nhất là các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước cho các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng, quy mô lớn của Vùng.

Từ những thành tựu, hạn chế sau 17 năm thực hiện Nghị quyết 53 và Kết luận 2/8/2012, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đưa ra các định hướng cần tập trung chuyển đổi cho Vùng, gồm:

Thứ nhất, đánh giá sâu sắc hơn các kết quả đạt được từ năm 2005 đến nay, những kết quả có tính chất quyết định đến phát triển kinh tế - xã hội toàn Vùng; những nguồn lực, tiềm năng còn chưa được khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả; những điểm nghẽn, nút thắt kìm hãm sự phát triển của các địa phương trong Vùng.

Thứ hai, thảo luận, phân tích tính đồng bộ trong việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách huy động nguồn lực bên ngoài và khơi thông các nguồn lực tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đề xuất các khuyến nghị chính sách cho Vùng.

Thứ ba, làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Vùng trong mối quan hệ tổng thể quốc gia; đánh giá các cơ hội, thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của Vùng trong thời gian tới.

Thứ tư, định hình lại, làm sâu sắc hơn các tiềm năng, lợi thế của Vùng Đông Nam Bộ. Trên cơ sở đó, đề xuất được các quan điểm cần được xem xét, các cơ chế chính sách cần phải thay đổi; các ngành, lĩnh vực cần được ưu tiên đầu tư; các trục phát triển kết nối Vùng với khu vực Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, tuyến đường xuyên Á,... để phát triển kinh tế xã hội Vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ năm, đề xuất được các giải pháp phát triển kinh tế xã hội của Vùng: quản lý đất đai, ô nhiễm môi trường; liên kết vùng; giải pháp phát triển đô thị, mạng lưới giao thông vùng, giải quyết vấn đề ách tắc giao thông, chống ngập cho TP HCM, phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, đảm bảo an sinh xã hội; cơ chế, chính sách và nguồn lực nhằm phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và trung tâm tài chính, ngân hàng. Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác xây dựng tổ chức Đảng và hệ thống chính trị cấp cơ sở nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của Vùng.

Nghị quyết số 53 ngày 29/8/2005 về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu “Huy động cao nhất các nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng để phát triển nhanh, ổn định và bền vững, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, các mặt giáo dục – đào tạo, văn hóa, xã hội, y tế vào loại hàng đầu cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và quốc phòng, an ninh vững chắc; góp phần tích cực vào sự phát triển chung của khu vực phía Nam và cả nước, là địa bàn cầu nối để hội nhập, hợp tác kinh tế có hiệu quả với các nước trong khu vực”.

Để tiếp tục khắc phục hạn chế của Vùng, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 27 ngày 02/8/2012 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 53, trong đó nhấn mạnh mục tiêu “duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo chuyển biến rõ rệt về chất, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả các ngành kinh tế, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đóng góp hiệu quả vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế của cả nước. Chủ động khai thác cơ hội, phát huy tối đa lợi thế và hạn chế các mặt bất lợi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững kinh tế, xã hội, môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh”.

Phương Thảo

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/dinh-hinh-lai-vai-tro-cua-ngo-giao-thuong-cua-dau-tau-phia-nam-post8512.html