Doanh nghiệp & Nhà nước: Dựa nhau vượt bão

Gốc
Trang 1 / 2

Lãi suất vay vốn cao, giá nguyên vật liệu đầu vào liên tục tăng, lại thêm áp lực tăng lương cho người lao động đang khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn. Theo ông Phạm Hồng Việt, Giám đốc Công ty Cổ phần Cao su Hà Nội, từ năm 2008 đến nay, các doanh nghiệp phải trải qua 2 giai đoạn khó khăn, khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009 và lạm phát 2010-2011. Giai đoạn này không tuân theo quy luật kinh tế thông thường nào”, ông nói. Phải chủ động Ông Trần Tiên Nam, Giám đốc Công ty Quang Minh, chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Bình Dương với tỉ lệ xuất khẩu đến 99%, nói lãi suất quá cao đã đẩy chi phí sản xuất tăng lên, trong khi phải xuất khẩu hàng mới thu được vốn. Không những thế, các doanh nghiệp còn phải chịu giá điện, xăng dầu và nguyên liệu tăng mạnh. Đối với ngành dệt may, áp lực là giá bông tăng 300% so với đầu năm 2009. Nhiều doanh nghiệp đang tính toán có nên tiếp tục sản xuất hay không. Khi giá bông đến đỉnh 5,2 USD/kg, doanh nghiệp ký hợp đồng nhập về. Sau 2 đến 3 tháng bông về nước thì giá thế giới lại giảm xuống 4,8 USD/kg. Giá thay đổi quá nhanh khiến doanh nghiệp không theo kịp và chịu thiệt. Vấn đề lúc này là doanh nghiệp phải nhận diện được khó khăn, cái nào có thể khắc phục, cái nào không, để ứng phó phù hợp. Theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh thuộc Bộ Tài chính, cũng là lạm phát và giá đầu vào tăng, nhưng doanh nghiệp cần biết rằng khó khăn nay đã khác với trước. Năm 2008, lạm phát lên đến trên 19% rồi 2009 lại có khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Khi đó, lãi suất đã được nới lỏng, kèm theo các gói kích thích kinh tế, hỗ trợ lãi suất. Còn hiện nay, ông Ánh cho rằng, sẽ không có gói hỗ trợ lãi suất nào, thậm chí còn ngược lại vì cách đây vài ngày, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và lãi suất liên ngân hàng. Lãi suất thanh toán bù trừ tăng từ 12% lên 13%, lần tăng thứ 3 kể từ đầu năm 2011. Cái khác thứ hai là thị trường tiêu thụ. Năm 2009, xuất khẩu khó khăn, định hướng tốt là các doanh nghiệp đã chuyển hướng về thị trường nội địa và thị trường này đã phát huy tác dụng. Còn năm nay, không phải thị trường xuất khẩu mà chính thị trường trong nước lại khó khăn, do thu nhập của người tiêu dùng không theo kịp đà tăng giá. Đối với doanh nghiệp cổ phần, còn có thêm một áp lực nữa là lợi tức cổ phiếu. Nếu các chi phí đều tăng, trong đó có lương công nhân, thì cổ đông sẽ phản đối. Đây là thử thách đối với bất kỳ ban lãnh đạo doanh nghiệp nào. Theo phân tích của ông Ánh, doanh nghiệp khó có thể trông cậy vào một mức lãi suất tín dụng thấp. Muốn trụ vững, cách làm xuyên suốt tuy không mới là giảm các loại chi phí. Ngoài việc tiết kiệm chi phí điện, xăng dầu, theo ông Ánh, đồng vốn chính là yếu tố quan trọng lúc này. “Giả định doanh nghiệp vay một khoản tiền lớn. Trước đây, lượng vốn này quay vòng được 1 lần trong khoảng thời gian nhất định, nay quay vòng 1,2 lần sẽ tạo ra nhiều doanh thu hơn, gián tiếp giảm được chi phí vốn”, ông phân tích. Về vấn đề tiết kiệm vốn, bà Phạm Nguyên Hạnh Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, cho biết Tập đoàn đã chỉ đạo các doanh nghiệp thành viên dừng mua sắm tài sản và dự án đầu tư không cần thiết. “Nếu dự án nào mang lại hiệu quả sớm thì làm cho nhanh, từ đó khai thác tối đa để tăng doanh thu”, bà nói. Phương thức thanh toán với đối tác cũng giúp gỡ một phần cho vấn đề thiếu vốn hay giảm chi phí vốn. “Thông thường doanh nghiệp thanh toán với nước ngoài qua L/C, nhưng cũng có thể đàm phán trả trước hay trả từng phần, xuất đến đâu thanh toán đến đó để có vốn lưu động”, ông Việt, Công ty Cao su Hà Nội, gợi ý. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần hạn chế hàng tồn kho, từ nguyên liệu đầu vào cho đến sản phẩm đầu ra. Khơi thông được 2 đầu sẽ giúp vốn không bị chôn chân, có thể quay vòng vốn hoặc làm vốn lưu động. Riêng với doanh nghiệp xuất khẩu, có một lợi thế là có thể khai thác nguồn thu ngoại tệ từ sự biến động tỉ giá.

Tin nóng

Tin mới