Dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi: Quyền sở hữu và điều hành trường tư có gì thay đổi?

Gốc
Cho phép tư nhân tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ giáo dục (với uyển ngữ thường dùng là xã hội hóa giáo dục) là một sự thay đổi quan trọng cả về mặt tư duy của các nhà làm chính sách lẫn trong thực tế của xã hội Việt Nam mấy thập niên qua. Tuy nhiên, chính sách về xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam từ đó đến nay đã trải qua con đường gập ghềnh nhiều chặng, trong đó hai vấn đề quan trọng nhất, cũng gai góc nhất là quyền sở hữu và mô hình quản trị điều hành.

Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông. Ảnh: THÀNH HOA

Sở dĩ hai vấn đề này trở thành gai góc là vì nó nằm ở tâm điểm xung đột giữa những quan niệm khác nhau đến mức đối lập về bản chất hàng hóa công và lợi ích tư của giáo dục. Vì thế, không có gì khó hiểu khi thái độ của các nhà làm chính sách đối với khu vực giáo dục tư thay đổi nhiều lần, thậm chí đi từ cực này đến cực khác, có lúc quá thận trọng, có lúc lại mở gần như hết cỡ.

Dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi đã xử lý như thế nào hai vấn đề này?

Vấn đề sở hữu: Ai là “chủ” các trường tư?

Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”.

Đối với cơ sở giáo dục, thì hai yếu tố quan trọng nhất là quyền sử dụng, tức là quyền ra quyết định trong việc điều hành; và quyền định đoạt, tức là quyền mua, bán, cho, tặng, để thừa kế...

Trong dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi, quyền sở hữu tài sản, chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, tư thục được quy định trong điều 101 như sau: “Tài sản trường dân lập, tư thục thuộc sở hữu của pháp nhân nhà trường”, cụ thể là “tài sản thuộc sở hữu của trường tư thục được hình thành từ vốn góp của các thành viên, được xác định bằng biên bản góp vốn của các nhà đầu tư và ghi trong điều lệ nhà trường. Các nhà đầu tư có trách nhiệm chuyển quyền sở hữu phần tài sản góp vốn cho nhà trường theo quy định”.

Vì sao lại ghi “thuộc sở hữu của pháp nhân nhà trường” thay vì ghi là “thuộc sở hữu của nhà đầu tư”? Đó là vì cần phải phân biệt pháp nhân và thể nhân.

Tài sản của nhà trường là những khoản do nhà đầu tư đóng góp vào, bằng tiền mặt, quyền sử dụng đất và bất cứ tài sản hữu hình hay vô hình nào; sau đó nó biến thành trường sở, phòng ốc, bàn ghế, máy móc, thiết bị, nó nằm trong tài khoản hay trong két để duy trì sự vận hành của nhà trường. Nó khác với tài sản cá nhân, vì việc định đoạt tài sản cá nhân chỉ liên quan đến cá nhân chủ sở hữu, còn việc định đoạt tài sản của nhà trường thì còn liên quan đến học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh, và nhiều bên liên quan khác.

Chính vì thế mà dự thảo luật có quy định việc góp vốn phải được xác định bằng biên bản góp vốn của các nhà đầu tư, nhằm đưa tài sản cá nhân thành tài sản của pháp nhân. Nhà trường là một pháp nhân, cũng giống như các doanh nghiệp. Pháp nhân này hoạt động trong khuôn khổ luật định, vì tự thân nó không phải chỉ có một mục đích kiếm lời cho nhà đầu tư, mà còn có trách nhiệm xã hội với tất cả các bên liên quan. Vì vậy, dự thảo mới có câu “Tài sản của trường dân lập, tư thục được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật”, chính là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên liên quan, trong đó quan trọng nhất là người học. Cũng vì vậy mà dự thảo luật quy định việc chuyển nhượng vốn đối với trường dân lập, tư thục được thực hiện theo quy định của Chính phủ để bảo đảm sự ổn định và phát triển của nhà trường.

Nhà đầu tư sau khi góp vốn thì chỉ còn sở hữu cổ phần, chứ không còn sở hữu trực tiếp những tài sản mà mình góp vào. Họ vẫn có quyền định đoạt, mua bán, nhưng là định đoạt, mua bán cổ phần của họ, tức là theo các quy định luật pháp, chứ không như mua bán tài sản cá nhân.

Trên tinh thần đó, dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi đã đối xử với vấn đề sở hữu trường tư không khác gì sở hữu các doanh nghiệp, nghĩa là mặc định coi các trường là các tổ chức vì lợi nhuận. Nói cho công bằng, dự thảo luật cũng có phân biệt trường tư (tức các tổ chức vì lợi nhuận) và các trường tư không vì lợi nhuận, ví dụ như trong việc sử dụng tài chính hay mô hình điều hành (điều 100 khoản 2 và điều 54 khoản 3). Luật cũng có quy định nhiều ưu đãi cho các trường tư kể cả vì lợi nhuận (VLN) lẫn không vì lợi nhuận (KVLN). Tuy nhiên trong vấn đề sở hữu và chuyển nhượng tài sản, điều 101 không nhắc gì đến các trường tư KVLN. Đó là một khe hở cần được bổ sung.

Vấn đề điều hành: Ai là người có quyền quyết định?

Điểm mới của dự thảo luật này là đã tách quyền sở hữu ra khỏi quyền điều hành về mặt nguyên tắc, tức là hội đồng trường (HĐT) thực hiện quyền điều hành nhà trường và là một thực thể khác với nhà đầu tư. HĐT theo định nghĩa của dự thảo luật, là “tổ chức quản trị, đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan”.

“Các bên liên quan” là ai, thì dự thảo luật xác định là “đại diện nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường”. Thành viên trong trường gồm có các thành viên đương nhiên (bí thư cấp ủy, chủ tịch công đoàn, đại diện ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người học của trường (nếu có), hiệu trưởng) và các thành viên được bầu (đại diện giáo viên và người lao động). Thành viên ngoài trường là đại diện lãnh đạo nhà quản lý, nhà giáo dục, doanh nhân, cựu học sinh.

Nhưng vấn đề không phải chỉ ở chỗ HĐT gồm những thành phần nào, mà là ở chỗ HĐT được thiết lập như thế nào và có những thẩm quyền gì.

Có ba điểm cần chú ý ở đây. Một là, ai quyết định người nào sẽ ngồi vào ghế HĐT. Đối với trường tư VLN, cả ba thành phần (đại diện nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường) đều là do hội nghị nhà đầu tư bầu, quyết định theo tỷ lệ góp vốn (điều 54). Tất nhiên là nhà đầu tư vẫn phải đảm bảo các thành phần đã được quy định trong luật, nhưng họ có quyền quyết định ai sẽ ngồi vào chỗ ấy. Hơn thế nữa, họ còn có thể miễn nhiệm, bãi nhiệm HĐT (điều 47). Thẩm quyền của nhà đầu tư như vậy, thực chất là quyền của các ông chủ.

Hai là, thẩm quyền của HĐT được quy định như thế nào. Khác với HĐT ở các nước phát triển, HĐT của trường tư theo dự thảo luật không có quyền quyết định những vấn đề quan trọng như dự án đầu tư phát triển trường, việc huy động vốn đầu tư (nếu có); phương án sử dụng hoặc xử lý phần chênh lệch thu chi hàng năm; thông qua báo cáo tài chính hàng năm; ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chế tài chính; thông qua các nội dung liên quan đến tài chính, tài sản trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường. Quyền quyết định tất cả những vấn đề này là quyền của nhà đầu tư. Như vậy, HĐT của trường tư theo dự thảo luật thực chất chỉ đại diện cho tiếng nói và lợi ích của nhà đầu tư, khó mà nói là “đại diện cho nhà đầu tư và các bên có liên quan” như trong định nghĩa.

Ba là, tuy dự thảo tạo điều kiện để tách sở hữu và điều hành, nhưng đó không phải là điều bắt buộc. Vì thế các nhà đầu tư vẫn có thể kiêm nhiệm các chức vụ trong HĐT và cả trong bộ máy quản lý điều hành của trường, tức là chẳng có gì khác so với trước đây.

Một điểm tiến bộ là dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi có phân biệt trường tư VLN và KVLN. Đối với trường KVLN, các thành viên được bầu là do hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường bầu chọn. Nghĩa là thẩm quyền của nhà đầu tư bị thu hẹp chút ít so với các trường VLN. Họ chỉ quyết định ai sẽ là đại diện cho các nhà đầu tư để tham gia vào HĐT. Như vậy HĐT của trường tư KVLN có thể xem là đại diện cho tiếng nói của các bên nhiều hơn, chứ không chỉ là tiếng nói của nhà đầu tư.

Tóm lại, dự thảo Luật Giáo dục sửa đổi đã xử lý vấn đề theo hướng coi các trường tư VLN giống như các doanh nghiệp, trong đó quyền quyết định cao nhất là của các nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn góp. Điều này sẽ tác động như thế nào đến sự phát triển của giáo dục, là điều chưa được nghiên cứu kỹ, nhất là đối với giáo dục phổ thông. Nó có thể đảm bảo sự an tâm để các nhà đầu tư phát triển tầm nhìn dài hạn, nhưng cũng có thể kích thích thương mại hóa giáo dục trên quy mô rộng.

Có một thực tế mà chúng ta cần suy nghĩ, là ở hầu hết các nước, giáo dục phổ thông là trách nhiệm chính của nhà nước, chứ không phải khu vực tư. Vẫn có trường tư ở bậc phổ thông, nhưng chủ yếu là để đáp ứng những nhu cầu đa dạng hoặc đặc thù. Sở dĩ như vậy là vì mở rộng cơ hội tiếp cận với một nền giáo dục phổ thông có chất lượng là điều có ý nghĩa quyết định đối với tương lai một đất nước. Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông. Nhưng “chính” không phải là chỉ có trường công. Việc khuyến khích thành lập trường tư là cần thiết, các nước phát triển đều làm như thế. Vấn đề là Nhà nước phải đảm bảo hệ thống trường công phát triển song song với trường tư và phải đảm bảo trường công đạt chất lượng quy định.

Phạm Thị Ly