FTA và thế cờ mới của Việt Nam

Gốc
Đầu năm 2017, việc Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo ra một cú sốc cho các nước tham gia vào hiệp định. Kế hoạch của nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đã bị xáo trộn khi trước đó đã có nhiều chuẩn bị cho việc tiếp cận thị trường của 11 nước còn lại. Ván cờ Hiệp định Thương mại tự do (FTA) của Việt Nam sẽ thế nào?

FTA và thế cờ mới của Việt Nam - Ảnh 1

Các hiệp định thương mại giúp Việt Nam thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài, trong đó một phần vì Việt Nam có thị trường tiêu thụ với hơn 90 triệu dân. Ảnh: THÀNH HOA

Sơ lược về các FTA của Việt Nam

FTA sớm nhất của Việt Nam là AFTA năm 1996, một năm sau khi gia nhập ASEAN, mà hiện nay được thay thế bằng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Kể từ năm 2001, Việt Nam đã tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, với việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, và thành công nhất là năm 2015 với việc ký kết bốn  FTA với EU, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á - Âu (EEC), và TPP. Đến cuối năm 2016, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán 16 FTA. Trong số này, có 10 FTA đã thực thi (sáu FTA trong số này với tư cách là thành viên ASEAN, bốn FTA còn lại với Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, và EEC). Hai FTA đã kết thúc đàm phán là TPP và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Bốn FTA đang đàm phán là Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA ASEAN - Hồng Kông, FTA với Israel và với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA).

Các FTA đã góp phần tích cực trong việc nâng cao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và có nhiều cải cách về mặt chính sách, đặc biệt là thuế và thủ tục hành chính. Cụ thể, nghiên cứu của Barai et al. (2017) về FTA của Việt Nam cho thấy các FTA đã giúp Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, tăng tính cạnh tranh và giảm sự phụ thuộc vào một số ít thị trường. Riêng về xuất khẩu, số liệu từ bảng 1 cho thấy Mỹ, EU và Trung Quốc lần lượt là ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 52,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Nhìn lại bàn cờ FTA hiện nay của Việt Nam, khi đã mất TPP và EVFTA đang bị “chiếu”, việc tính toán lại các nước đi tiếp theo là hết sức phức tạp và khó khăn, như một ván cờ thế. Nếu không cẩn trọng, sự phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc sẽ là rất lớn.

Các FTA giúp thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư FDI, đặc biệt các nhà đầu tư châu Á. Một phần là vì Việt Nam có một thị trường tiêu thụ với hơn 90 triệu dân, nhưng một phần cũng là vì Việt Nam là công xưởng để các công ty của Hàn Quốc, Nhật Bản xuất hàng đi EU, Mỹ... bảng 2 cho thấy đứng đầu các nhà đầu tư FDI vào Việt Nam là Hàn Quốc và Nhật Bản. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến tháng 7-2017, tổng giá trị vốn FDI đăng ký là 307.86 tỉ đô la Mỹ với 23,737 dự án. Có 59% tổng vốn đầu tư là ở lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

Khi cánh cửa TPP đã đóng và cánh cửa EVFTA có thể dần hẹp đi

FTA và thế cờ mới của Việt Nam - Ảnh 2

Nhìn vào tình hình xuất nhập khẩu từ bảng 1, có thể thấy rằng, nếu cánh cửa xuất khẩu sang Mỹ với TPP đã đóng và sang EU với  EVFTA có thể dần hẹp đi vì nhiều lý do, thì rất nhiều khả năng Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi và nước hưởng lợi nhiều sẽ là Trung Quốc. Đối với các mặt hàng dệt may, da giày, hy vọng thay thế Trung Quốc

FTA và thế cờ mới của Việt Nam - Ảnh 3

trong chuỗi cung ứng ngày càng mong manh. Còn đối với các mặt hàng nông-lâm-thủy sản, việc hạn chế thị trường xuất khẩu, tăng sự phụ thuộc vào một số rất ít thị trường, đặc biệt là Trung Quốc, sẽ khiến Việt Nam ở thế yếu trong việc đàm phán các điều kiện thương mại. Theo kỳ vọng của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, EVFTA nếu có hiệu lực vào năm 2018 sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng 50%.

Ở khía cạnh nhập khẩu, chỉ riêng số liệu chính thức, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc gần 25% tổng giá trị nhập khẩu (năm 2016), Mỹ và EU khoảng 12,2%, nếu phần giảm từ hai thị trường lớn này chuyển sang cho Trung Quốc thì sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc sẽ là rất lớn, tạo một sự mất cân đối trầm trọng.

Tuy nhiên, một yếu tố còn quan trọng hơn rất nhiều là nội dung của các FTA, đặc biệt liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường, quyền của người lao động và sở hữu trí tuệ. Trong số  16 FTA mà Việt Nam đang liên đới, chỉ có FTA với Nhật, với Úc - New Zealand (thông qua ASEAN), TPP và EVFTA là có đề cập đến vấn đề sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, về vấn đề môi trường và quyền lợi của người lao động, chỉ có EVFTA và TPP là đề cập đến, và đây cũng chính là những điều khoản mà các bên dành nhiều thời gian để đi đến thống nhất trong đàm phán.

Như vậy, có thể thấy việc hội nhập kinh tế thế giới đã giúp Việt Nam rất nhiều trong phát triển kinh tế và cải thiện các chính sách của mình. Tuy nhiên, thế giới đang đương đầu với xu hướng chống toàn cầu hóa, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy với trường hợp Brexit, ông Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ và Trung Quốc cố gắng vươn tầm ảnh hưởng của mình bằng mọi giá. Nhìn lại bàn cờ FTA hiện nay của Việt Nam, khi đã mất TPP và EVFTA đang bị “chiếu”, việc tính toán lại các nước đi tiếp theo là hết sức phức tạp và khó khăn, như một ván cờ thế. Nếu không cẩn trọng, sự phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc sẽ là rất lớn.

(*) TS, Đại học Kinh tế TPHCM và IPAG Business School Paris, Hội các nhà chuyên gia và khoa học AVSE

Tài liệu tham khảo:

(1) Barai, M. K., Le, T. A. L., & Nguyen, N. H. (2017). Vietnam: achievements and challenges for emerging as a FTA hub. Transnational Corporations Review, 1-15.

(2) http://www.thesaigontimes.vn/155198/Viet-Nam-da-va-dang-tham-gia-16-FTA.html

Võ Đình Trí (*)

Tin nóng

Tin mới