Gặp người anh hùng lái xe trên con đường Trường Sơn huyền thoại

Gốc
Một chiều tháng Năm lịch sử, chúng tôi tìm về thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định để được nghe Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường (sinh năm 1943) kể lại những năm tháng hào hùng, cùng đồng đội kéo pháo, chở đạn… vào sinh ra tử trên con đường Trường Sơn huyền thoại.

Gặp người anh hùng lái xe trên con đường Trường Sơn huyền thoại

Một chiều tháng Năm lịch sử, chúng tôi tìm về thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định để được nghe Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường (sinh năm 1943) kể lại những năm tháng hào hùng, cùng đồng đội kéo pháo, chở đạn… vào sinh ra tử trên con đường Trường Sơn huyền thoại.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường.

Dù hơn 50 năm trôi qua, nhưng trong tâm trí của Anh hùng Nguyễn Công Tường vẫn còn vẹn nguyên một thuở. Với giọng nói hào sảng, hóm hỉnh của người lính lái xe kéo pháo năm xưa, những kỷ niệm “vào sinh ra tử” cùng đồng đội trên cung đường Hồ Chí Minh lịch sử đã được ông tái hiện lại bằng nhiều cung bậc cảm xúc.

Đầu năm 1964 chàng trai trẻ Nguyễn Công Tường (quê ở xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Yên, nay là huyện Yên Định) hăng hái lên đường nhập ngũ vào tiểu đoàn 105, trung đoàn 280, sư đoàn 367, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân. Sau 3 tháng ông được đơn vị cho đi học lái xe kéo pháo, rồi được phân công làm Tiểu đội trưởng lái xe Đại đội 13 ô tô với nhiệm vụ bảo vệ Thành phố Vinh. Đến tháng 12-1967, ông cùng tiểu đoàn pháo cao xạ tham gia bảo vệ các tuyến đường 12, 15, 16, đường 20 Quyết Thắng của con đường Trường Sơn huyền thoại.

Nhớ lại những tháng ngày gian khổ, hào hùng ấy, ông bảo: “Xe của chúng tôi thường khởi hành vào ban đêm nhưng để tránh sự phát hiện của địch, đèn chỉ được lắp dưới gầm, ánh sáng chỉ soi sáng được một khoảng rất nhỏ. Hôm nào trăng sáng, chúng tôi không bật đèn mà đi dưới trăng. Bên cạnh đó, trên những cung đường bom, mìn, chất độc hóa học rải xuống suốt ngày đêm. Thời tiết khắc nghiệt, mùa mưa kéo dài khiến đường đất nhầy nhụa, mùa khô thì nắng cháy, gió Lào thổi đến héo hon cả người, chưa kể vắt, muỗi rừng, rắn rết… rồi sốt rét rừng”.

Với những lính lái xe như ông Tường, cung đường nào, chuyến xe nào cũng là những kỷ niệm theo ông suốt cả cuộc đời. Hầu hết các cung đường đều dốc, hẹp, một bên núi cao, một bên vực thẳm, nhiều đoạn sạt lở, chỉ cần không vững tay lái là xe và người có thể bay xuống vực sâu. Đó là chưa kể đến lần phải đi dưới làn mưa bom, bão đạn của quân thù… Lúc đó, sự sống - chết vô cùng mong manh. Ngày ấy, đường Trường Sơn vốn là tuyến vận tải chiến lược nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Giai đoạn 1967-1970 là giai đoạn địch đánh phá ác liệt nhất ở chiến trường Quảng Trị. Chiến tranh gian khổ, ác liệt, lương thực thiếu…

Tháng 11-1968, sau khi kéo pháo phục vụ đơn vị bắn rơi 2 máy bay Mỹ ở đường 20 Quyết Thắng, tiêu diệt nhiều tên lính Mỹ, địch đánh bom vào trận địa, một số pháo thủ bị thương. Dù cho máy bay địch vẫn quần thảo trên đầu nhưng ông Tường vẫn dũng cảm lái xe chở thương binh về viện quân y an toàn. Rồi ông lại vào trận địa kéo pháo đi nơi khác. “Trong lần tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào, địch đánh phá rất ác liệt, dốc cao 300-400m, xe không thể vượt qua được. Cuối cùng, tôi nghĩ ra sáng kiến rồi cùng đồng đội hạ pháo xuống, nhả tời ra, sang bên kia buộc vào gốc cây rồi quay đầu xe tời lại đưa pháo lên. Suốt cả đêm hôm đó chúng tôi mới tời hết 6 khẩu pháo qua được con dốc để kịp phục vụ cho cuộc chiến ngày mai”, ông Tường bồi hồi nhớ lại.

Có lẽ, khi đã vào cuộc chiến, đứng trước sự sống còn, những người lính sẽ không ai màng gì đến bản thân cả. Dù mưa bom bão đạn, dù khó khăn gian khổ vẫn kiên cường bám trụ, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.

Là một người lính lái xe chở pháo, đạn nhưng ông Nguyễn Công Tường còn kiêm luôn các nhiệm vụ như: bốc vác hàng hóa, cõng thương binh, vận chuyển họ ra hậu cứ, có lúc còn kiêm luôn hộ lý, y tá băng bó vết thương cho anh em đồng đội… Ông còn được nhiều đồng đội biết đến bởi tự mày mò, sửa chữa những xe đang hư hỏng trở thành xe chạy tốt.

Ông bảo: “Những năm đó, tôi không nhớ bản thân đã sửa bao nhiêu chiếc xe hỏng cho đồng đội khi trên đường bị máy bay giặc tấn công. Nhiều khi không có phụ tùng thay thế, tôi đành phải đến nơi địch đánh phá, tháo phụ tùng ở những chiếc xe bị hư hỏng nặng, đưa về thay thế vào những bộ phận hư hỏng của xe mình và xe đồng đội”.

Vào cuối tháng 11-1971, ông bị đau khớp và sốt rét nặng, dù sức khỏe chưa hồi phục, đang phải điều trị ở viện nhưng khi nghe tin đơn vị chiến đấu ông đã xin ra viện sớm. Về tới đơn vị, thấy có một xe cũ hỏng nhiều bộ phận, ông lại tiếp tục tìm phụ tùng, thay thế, sửa chữa. Và chỉ sau 2 ngày đã sửa được chiếc xe, kịp thời đưa pháo vào chiến trường. Hay như ngày 16-4-1972, ở ấp Ca Lu (Quảng Trị) địch ném bom làm hỏng két nước và cháy lốp xe, người lính Nguyễn Công Tường nhanh chóng đến các khu vực địch thường xuyên bắn phá, tháo gỡ lốp và phụ tùng ở những xe hỏng thay thế. Nhờ sửa chữa được xe, ông đã kéo pháo cho đơn vị cơ động, bắn rơi 4 chiếc máy bay địch trong ngày.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường.

Nhấp chén trà, mắt ông Tường rưng rưng nước: “Ngày 15-5-1972, ở bến Than (Quảng Trị), trong lúc máy bay địch ném bom cháy vào trận địa, lúc ấy tôi không nghĩ được gì ngoài việc phải cứu pháo. Vậy là tôi liền xông vào dập lửa, kéo pháo”.

Hành động của ông đã cổ vũ đơn vị làm theo, cứu được 2 khẩu pháo. Sau đó, ông Tường bị đau mắt nặng, nhưng vẫn lái xe liên tục 3 đêm đưa pháo vào Ai Tử, kịp thời chi viện cho bộ binh chiến đấu. Dù ở nhiệm vụ nào, ông vẫn kiên cường xả thân, trực tiếp cầm súng chiến đấu. Trong cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, ông cùng đồng đội đã bắn rơi 2 máy bay, tiêu diệt nhiều tên lính ngụy.

Chính trong trận chiến khốc liệt này, ông bị bom bi bắn vào bụng bị thương, một mảnh bom găm vào chân. Thế nhưng, sau khi băng bó vết thương, ông vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu. Ban đêm tiếp tục lái xe vượt hàng chục km ra khu vực cấp đạn rồi lại lấy đạn chở vào trận địa để ngày hôm sau quân ta có đạn chiến đấu. “Không phải riêng tôi mà anh em đồng đội cũng vậy. Lúc bị thương cũng chỉ mong muốn làm sao để hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Mọi đớn đau giường như quên hết”, ông Tường trải lòng.

Nhớ lại những kỷ niệm trong 10 vạn km an toàn trên nhiều đoạn đường xấu, địch đánh phá ác liệt mà ông đã đi qua. Ông bồi hồi xúc động, nói: “Cả tiểu đội lái xe có 7 người chỉ còn mình tôi là sống sót trở về. Và chiếc xe tôi lái cũng còn cho đến bây giờ, hiện đang được trưng bày ở bảo tàng trong TP Hồ Chí Minh. Tôi còn nhớ và day dứt cho đến giờ khi đồng chí Bình (người Hà Bắc) trong đội bảo tôi, hết trận đánh này (trận bảo vệ Thành cổ Quảng Trị) anh cho em về quê lấy vợ nhé. Thế mà cậu ấy chẳng kịp thực hiện thì đã hy sinh. Cậu ấy chỉ mới ngoài 20 tuổi”.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường trong cuộc sống đời thường.

Từ năm 1964-1975, người anh hùng Nguyễn Công Tường đã lái hơn 10 vạn km đường Trường Sơn. Dù máy bay địch bắn phá ác liệt, đường hẹp, xe phần lớn chạy quá thời gian sử dụng, ông vẫn cương quyết bám xe, bám đường kéo pháo, đảm bảo cho đơn vị chiến đấu tốt. Ông đã đưa được 724 lần khẩu pháo, 29 lần chuyến xe chở đạn vào trận địa an toàn.

Với những gì đã cống hiến, người lái xe Trường Sơn Nguyễn Công Tường được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 31-12-1973, ông được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hiện đang giữ chức Chủ tịch Hội Trường Sơn huyện Yên Định.

Câu chuyện được người lính Trường Sơn năm xưa kể đi kể lại nhiều lần nhưng tất cả vẫn vẹn nguyên như của hơn 50 năm thuở ấy. Dù những vết thương vẫn hành hạ ông mỗi khi trái gió trở trời nhưng khi được hỏi, ông vẫn cười rằng: “Nếu được chọn, tôi vẫn muốn làm người lính lái xe Trường Sơn”.

Hoài Thu