Gia đình người bị oan ở Hà Nam đề nghị VKSNDTC giám đốc thẩm

Gốc
Báo Nam Hà số thứ ba ra ngày 9.2.1993 đăng lệnh truy nã đặc biệt toàn quốc đối với đối tượng Vũ Ngọc Quý, Nguyễn Văn Phương và Trần Văn Cự can tội “giết người”. Tuy nhiên, đến ngày 21.2.1993, người bị bắt lại là Trần Ngọc Thanh (SN 1974), bị điều tra về hành vi “giết người”. Thời gian sau, Trần Văn Vót (SN 1949) cũng bị bắt vì đã đưa lựu đạn cho Thanh. Được ra tù, anh Thanh đã làm đơn đề nghị giám đốc thẩm việc anh “đi bộ đội không phạm tội mà vẫn phải vào tù” ngày 3.8.2014.

Bà Tân - mẹ đẻ của anh Trần Ngọc Thanh.

Tự dưng xa vòng lao lý

Ngồi trò chuyện với bà Trần Thị Tân (65 tuổi, mẹ của “hung thủ” Trần Ngọc Thanh trong vụ án năm xưa), chúng tôi thấy ở người phụ nữ này là sự đau khổ đến tột cùng, nước mắt lúc nào cũng trực trào khi nhắc đến người con trai có số phận không may mắn và vụ án “ném lựu đạn”. “Hơn 20 năm qua, gia đình tôi đã đi không biết bao nơi, gõ cửa không biết bao cơ quan để thu thập bằng chứng về việc con mình không phạm tội. Có bằng chứng trong tay, chúng tôi gửi đi, chờ đợi, hy vọng, rồi thất vọng. Cũng giống như gia đình ông Vót, là người mẹ, tôi đau như cắt từng khúc ruột”, bà Tân vừa nói vừa lấy tay lau nước mắt.

Qua câu chuyện được biết, Trần Ngọc Thanh là con đầu trong gia đình có 4 anh chị em. Bố là ông Trần Ngọc Thông (77 tuổi) là bộ đội nghỉ chế độ sau hơn 10 năm trong quân ngũ. Bà Tân là giáo viên trường cấp I, xã Phú Phúc hiện đã nghỉ hưu. Theo lời thuật lại của anh Thanh, vào khoảng 18h ngày 21.2.1993, anh bị đọc lệnh bắt khi đang ở đơn vị quân đội, tờ lệnh nói anh có liên quan đến vụ tranh chấp đất đai ở địa phương. Dù anh trả lời không biết gì về vụ việc, song ngay lập tức anh bị nhốt vào thùng comlet của đơn vị và đến khoảng nửa đêm thì anh được đưa lên xe Uoát chở đi.

Sau đó khoảng 30 phút, có 2 người mở cửa phòng gọi anh và nói: “Tội bây giờ mày có khai không?”, anh vẫn trả lời là hôm đó anh đi làm đất, không có mặt ngoài đó, nên không biết gì cả, lập tức 2 người lao vào dùng dùi cui điện đánh tới tấp đến khi anh ngất đi không biết gì nữa. Sau đó, anh bị tra tấn, bức cung, uy hiếp và buộc anh phải nhận ném lựu đạn. Khi xét xử sơ thẩm, HĐXX hỏi anh, anh vẫn trả lời: “Chiều hôm đó, lúc lựu đạn nổ ngoài bãi, tôi đang trên đường từ nơi làm đất về nhà và cách địa điểm nổ khoảng 2km. Đến phiên phúc thẩm, tôi vẫn bị tuyên phạt 15 năm tù giam về tội giết người”, theo đơn đề nghị giám đốc thẩm “đi bộ đội không phạm tội mà vẫn phải vào tù” của anh Thanh ngày 3.8.2014.

Nhiều người đứng ra làm chứng

Sau thời gian đó, gia đình bà Tân đã nhiều lần đi tìm tài liệu. Bản trả lời của Ban CHQS huyện Lý Nhân ngày 25.7.1995 số 139/CV do Trung tá Trần Đức Cường ký cũng khẳng định: “Việc làm của E139 chưa đúng với quy định vì trước khi bàn giao quân nhân hoặc thanh niên cho cơ quan pháp luật trong hay ngoài quân đội mà quân nhân hoặc thanh niên đó đơn vị đang quản lý vì lý do gì thì đơn vị phải về thẩm tra và thống nhất với cơ quan quân sự huyện (nếu có hành vi phạm pháp tại địa phương) nơi quân nhân, thanh niên đó cư trú trước khi nhập ngũ. Sau đó mới thực hiện các bước, trả về địa phương hay giao cho cơ quan pháp luật theo quy định”, nhưng ban chỉ huy quân sự huyện không nhận được việc bàn giao nào về quân nhân Trần Ngọc Thanh.

Tuy nhiên, bà Tân cho biết: “Không biết vì sao lại xuất hiện giấy chứng nhận là đơn vị đã bàn giao quân nhân Trần Ngọc Thanh cho BCH quân sự huyện Lý Nhân ngày 22.3.1993. Chúng tôi nghi ngờ tính xác thực của giấy tờ này dẫn đến việc bắt con tôi vừa trái quy định pháp luật vừa trái quy định trong quân đội”.

Bên cạnh đó, có rất nhiều nhân chứng khẳng định họ đã gặp Trần Ngọc Thanh vào thời điểm nghe thấy tiếng nổ lựu đạn, mà ở khoảng cách xa hàng cây số, do đó không thể có hai Trần Ngọc Thanh cùng tham gia vào một sự việc ở cùng một thời điểm. Đó là bà Trần Thị Bông (SN 1944), chị Trần Thị Vân (SN 1977), ông Trần Văn Thận (SN 1945) - những người hiện vẫn còn sống ở địa phương.

Trao đổi với luật sư Trương Anh Tú - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội về vụ án có dấu hiệu oan sai ở Hà Nam, ông Tú cho biết: Vụ án ông Trần Văn Vót và anh Trần Ngọc Thanh bị tuyên là phạm tội nêu trên đã diễn ra được một thời gian khá dài, tính đến nay là hơn 20 năm. Vụ án đã trải qua hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm và đều là những bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, trong thời gian tới, để khẳng định vụ án có phải là oan hay không thì cần phải thực hiện một thủ tục tố tụng mới, đó là thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật được quy định tại phần thứ 6 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành. Thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật được chia ra hai trường hợp với những điều kiện khác nhau: Đó là thủ tục “giám đốc thẩm” hoặc “tái thẩm”.

Về thủ tục giám đốc thẩm, tính chất của giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 272 là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Để có thể thực hiện việc giám đốc thẩm thì điều kiện tiên quyết là người có thẩm quyền theo quy định tại BLTTHS phải kháng nghị bản án đã có hiệu lực pháp luật và căn cứ để thực hiện giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 273 BLTTHS phải thuộc một trong bốn trường hợp cụ thể đó là: 1. Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; 2. Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; 3. Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; 4. Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLTTHS.

Đối với thủ tục tái thẩm: “Điều 290. Tính chất của tái thẩm: Tính chất của thủ tục tái thẩm theo quy định tại Điều 290 BLTTHS là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó”.

Cũng giống như thủ tục giám đốc thẩm, việc để có thể bắt đầu thủ tục này thì điều kiện tiên quyết đó là những người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS cần phải ra quyết định kháng nghị đối với bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Việc ra quyết định kháng nghị phải thuộc một trong 4 trường hợp được quy định tại Điều 291 BLTTHS đó là: 1. Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật; 2. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai; 3. Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; 4. Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật.

Trong vụ án này, khó khăn nhất khi xem xét lại đó là sự việc đã xảy ra hơn 20 năm, những bằng chứng, dấu vết không còn, nhân chứng có thể không còn nhớ chính xác. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án vẫn còn, những người chứng kiến vẫn còn và hơn hết là có chỉ đạo của Thủ tướng. Với quyết tâm của các cơ quan tư pháp Trung ương, tôi tin rằng, vụ việc sẽ sớm được sáng tỏ.

Tin nóng

Tin mới