Giai thoại về những giấc mộng kỳ lạ hạ sinh các bậc đế vương VN

Gốc
Gắn liền với cuộc đời các vị quân vương luôn là những câu chuyện đầy sức hấp dẫn. Và trong số đó, tất nhiên sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua những giai thoại huyền bí về giấc mộng báo hiệu thân mệnh đế vương được sinh ra đời…

Lý Nam Đế - Sao thái dương sáng lòa

Lý Nam Đế là vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý và khai sinh ra Nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn, người làng Thái Bình, phủ Long Hưng, Việt Nam. Từ nhỏ, Lý Bí đã tỏ ra là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí lên 5 tuổi thì cha mất. Khi ông lên 7 tuổi thì mẹ cũng qua đời.

Lý Bí đến ở với chú ruột. Một hôm, có một vị Pháp tổ thiền sư đi ngang qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy. Sau hơn 10 năm đọc sách, rèn luyện chuyên cần, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu. Nhờ có tài văn võ song toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.

Lý Bí có tài, được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư hà khắc tàn bạo nên không được lòng người. Do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ. Sau đó, Lý Bí đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.

Cuộc đời làm vua đầy chiến công của Lý Bí khiến quanh ông có rất nhiều giai thoại độc đáo. Một trong số đó chính là giai thoại về việc ông được sinh ra đã mang bản mệnh đế vương. Theo đó, thân mẫu Lý Nam Đế được gọi là Long Nương, một lần giữa đường vào trú ở trong ngôi miếu của trang Vân Khám, nằm mơ thấy nuốt được ánh hào quang rực rỡ sáng cả bầu trời, sau đó có mang và sinh ra vua.

Theo dã sử ở đất Thụy Anh (nay thuộc huyện Thái Thụy, Thái Bình) thì thân mẫu của Lý Nam Đế sắp đến ngày sinh, vì có việc gấp phải đi, đến chùa ấp Quang Lang gặp mưa giông, trời lại sắp tối, bèn vào chùa xin trú qua đêm. Đến giờ Thìn, xuất hiện ánh hào quang rồi rồng vàng giáng xuống, bà trở dạ sinh con trai, đặt tên là Lý Bí.

Trong bản “Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ lục” cũng viết: “Một hôm, Thái bà nằm nghỉ ở ngoài sảnh đường thiếp đi, bỗng thấy trời đất tối đen, ngước nhìn thấy từ trên trời có đám hào quang ngũ sắc trong đó có hai rồng, một màu trắng, một màu vàng, cùng tranh giành sao Thái dương. Sao Thái dương bỗng nhiên giáng xuống miệng Thái bà, rồng vàng giáng thẳng xuống bụng Thái bà.

Thái bà bỗng tỉnh dậy, biết đó là giấc mộng, liền nói với Thái ông. Thái ông nói rằng theo như báo mộng thì tất thị nhà ta có phúc lớn… Vào giờ Thìn ngày 12 tháng 9 năm Quý Tỵ sinh hạ 1 nam. Thần tướng lẫm liệt, diện mạo khác thường, mày như mày vua Nghiêu, mắt như mắt vua Vũ, lưng như lưng vua Thang, quả là không phải người thường. Khi sinh có mây sa sầm, mưa gió nổi lên, hương thơm đầy phòng, khí lành tràn ngập trong phòng”.

Mai Hắc Đế - Viên ngọc kê sơn bích

Mai Hắc Đế tên thật là Mai Thúc Loan hoặc Mai Huyền Thành. Ông quê ở Mai Phụ, Lộc Hà, Hà Tĩnh nhưng sinh ra ở Nam Đàn, Nghệ An. Thông tin về lý lịch của Mai Hắc Đế khá mờ ảo. Theo “Việt điện u linh”, bố Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Lộc Hà - Hà Tĩnh, lưu lạc sang vùng Nam Đàn, Nghệ An.

Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi hái củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất. Ông được người bạn của bố là Đinh Thế đem nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Thế nhưng, có thuyết lại nói ông không có cha, còn mẹ là một phụ nữ nghèo khó, có lần đi xem nấu muối bị một làn khói muối ngũ sắc bao phủ lấy mình rồi mang thai sinh ra ông (theo Thiên Nam ngữ lục).

Trong khi đó, giai thoại dân gian thì cho biết cha ông là Mai Sinh, mẹ là Vương Thị, quê ở vùng ven biển đất Thiên Lộc (nay là xã Mai Lâm, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) sau vì miếng cơm manh áo mà đến thôn Ngọc Trừng, xứ Sa Nam (nay là xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, Nghệ An) sống và sinh ra Mai Thúc Loan ở đây.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Tuy nhiên, về sự ra đời của Mai Thúc Loan có một giai thoại hết sức độc đáo. Trong sách Tân đính hiệu bình “Việt điện u linh” có viết về câu chuyện sinh hạ thần kỳ và nguồn gốc tên gọi của ông như sau: “Khi sinh nhà vua, bà mẹ nằm mộng thấy một người thiếu phụ mình mặc áo đỏ, tự xưng là Xích Y sứ giả, tay cầm một viên ngọc kê sơn bích, nói rằng: “Cho bà cái này, nên dùng làm vật báu”.

Bà Vương Thị xem viên ngọc ấy thì thấy giống quả trứng gà nhưng to hơn, năm sắc óng ánh lóe cả mắt, bèn giơ tay đón lấy, bỗng nhiên cầm hụt, ngọc rơi xuống đất vỡ tan, nhân đó giật mình tỉnh dậy. Khi sinh ra, ở đùi trái Thúc Loan có vết xanh đen giống như một đồng tiền. Mẹ Thúc Loan đem chuyện trong mộng nói với cha Thúc Loan.

Cha cậu lấy làm lạ bèn giải thích rằng ngọc nhận ở tay bỗng nhiên rơi xuống đất vỡ tan, bắn tung tóe, có tiếng kêu vang vang, đó là cái ý tiếng tăm vang dậy, chấn động người đời, còn con gà đứng đầu loài có cánh, lại có thêm năm sắc lóe mắt, dùng để làm vật báu, có cái điềm lành của con linh điểu mang năm đức tốt. Ông bèn đặt tên cho chú bé mới sinh là Phượng, tên tự là Thúc Loan. Đó là để ghi lại cái điềm được thấy ở trong giấc mộng vậy”.

Quả thật, sau này lớn lên, Mai Thúc Loan cũng dựng cho mình một sự nghiệp lớn. Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi vật, học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó “gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông”.

Nhờ chí du ngoạn lại được vợ hết lòng ủng hộ, Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt, sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của ông như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tân,...

Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời Vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (năm 713). Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn, Nghệ An. Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường.

Tuy nhiên, hiện nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động.

Chuyện “cống vải” là một chi tiết của truyền thuyết, không thể và không phải là nguyên nhân chính nổ ra cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Mai Thúc Loan lãnh đạo. Tháng 4 năm 713, Mai Thúc Loan lên ngôi vua, sử gọi ông là Mai Hắc Đế.

Giai thoại về sự ra đời của Ngô Quyền

Ngô Quyền còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương. Ông là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài của Việt Nam.

Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944. Ngô Quyền sinh năm 898 trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm. Ngô Quyền được sử sách mô tả là bậc anh hùng tuấn kiệt, có trí dũng. Sau khi trở thành con rể cho Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền được tin cậy giao cai quản Ái Châu, đất bản bộ của họ Dương.

Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ, trở thành vị Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ cuối cùng trong thời kỳ Tự chủ. Nhưng vị tân Tiết độ sứ lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc, hành động tranh giành quyền lực của ông bị nhiều thế lực địa phương phản đối và thậm chí nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn vội vã cầu cứu nhà Nam Hán.

Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán. Thắng lợi của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng vào năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho mọi âm mưu xâm lược Tĩnh Hải quân của nhà Nam Hán, đồng thời cũng kết thúc thời kỳ Bắc thuộc của Việt Nam. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập ra nhà Ngô.

Cũng giống như nhiều bậc đế vương khác, sự ra đời của Ngô Quyền cũng có nhiều giai thoại kỳ lạ. Theo đó, mẹ của Ngô Quyền là Phùng Thị Tịnh Phong - con cháu của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng.

Một đêm bà Tịnh Phong nằm mộng thấy mình đi lễ bái về thì gặp một đám trẻ nhỏ nói cười ríu ríu bèn dừng lại chia kẹo cho, đứa lớn nhất mặt mũi khôi ngô thấy vậy cứ sà vào lòng bà mà gọi mẹ, bà bế cậu bé về nhà, vừa đến cửa nhà thì cậu bé tuột khỏi tay bà và biến mất. Từ đó bà mang thai đến 14 tháng, tới ngày 12 tháng 3 năm Mậu Ngọ (898) thì sinh hạ một người con trai đặt tên là Ngô Quyền.

Về chuyện lạ khi Ngô Quyền ra đời, nhiều sách sử đều có ghi chép, như trong sách Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Khi vua mới sinh, có một luồng ánh sáng lạ tỏa khắp cả nhà. Vua hình dạng trạng mạo đặc biệt khác thường, trên lưng có ba nốt ruồi đen. Người xem tướng lấy làm lạ, bảo rằng sau này có thể làm chúa một phương.

Vì thế cha vua mới gọi tên là Quyền. Khi lớn lên, mặt mũi khôi ngô, mắt sáng như chớp, chân bước khoan thai như dáng con hổ, có trí dũng, sức khỏe cất nổi cái vạc, làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ, Nghệ gả con gái cho, Quyền cai quản Ái châu. Đến khi ấy giết Kiều Công Tiễn, tự lên làm vua, đóng đô ở Loa thành”.

Lê Đại Hành và câu chuyện về vầng thái dương

Lê Đại Hành là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ năm 980 đến năm 1005. Trong lịch sử Việt Nam, Lê Đại Hành không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp lớn trong chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt.

Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian sau đó Lý Công Uẩn có đủ khả năng dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010, mở ra một kỷ nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Xung quanh vị hoàng đế này có nhiều câu chuyện huyền bí về sự chào đời với thân mệnh đế vương của Lê Hoàn.

Ảnh minh họa

Theo bản ngọc phả “Tiền Lê tam vị hoàng đế” ở đền Bảo Thái (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) thì cha của Lê Đại Hành tên là Lê Hiền, lấy vợ người xã Trường Yên Hạ (nay thuộc Hoa Lư, Ninh Bình) tên là Đặng Thị Khiết, hai vợ chồng “chuyên tâm làm việc phục thiện, được mọi người tôn kính. Sống lương thiện là thế, nhưng đến năm ông ngoài 60 tuổi, bà Đặng Thị gần 40 tuổi mà vẫn chưa có con nối dõi.

Một chiều lúc hoàng hôn vừa xuống, Đặng Thị mơ thấy cưỡi rồng lên trời ôm được vầng thái dương mang về, rồi Đặng Thị có mang, tới ngày 10 tháng giêng năm Tân Sửu (tức 941) sinh ra một trai mặt mũi khôi ngô, tinh thần sáng suốt bèn đặt tên là Hoàn.

Ngày qua tháng lại, khi lên bảy tuổi, chẳng may vận nhà gặp cơn nguy biến không lường trước được, ông Lê Hiền tự nhiên không bệnh qua đời, bà cũng tiếp theo từ giã cõi trần. Từ đó gia kế cùng quẫn, Lê Hoàn phải tìm đến nương nhờ ông quan Sát sứ họ Lê”.

Còn trong chính sử, chuyện lạ kỳ về việc ra đời của Lê Đại Hành cũng được đề cập đến. Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” viết rằng: “Cha vua là Lê Mịch, mẹ là Đặng Thị. Khi đang mới có thai, chiêm bao thấy trong bụng nở ra hoa sen rồi kết thành hạt sen, bà lấy đem chia cho mọi người nhưng phần mình lại không ăn.

Tỉnh dậy, bà lấy làm lạ lắm, đến ngày 15 tháng 7 mùa thu năm Tân Sửu (tức năm 941) khi sinh nhà vua. Đặng Thị thấy phong thai hình dáng đều khác thường, bà nói với mọi người rằng: Thằng bé này về sau ắt đại quý! Được vài năm thì mẹ chết, cha ít lâu sau cũng qua đời.

Có viên Quan sát họ Lê ở Ái châu trông thấy vua cho là người khác thường, vì là người cùng họ nên nhận làm con nuôi. Một hôm mùa đông giá rét, vua phải nằm phục xuống như hình cái cối úp, chẳng dè đêm ấy, nhà sáng rực cả lên vì có con rồng vàng nằm che lên cho…”.

Những câu chuyện trên nhuốm màu kỳ lạ và huyền bí về sự ra đời của Lê Hoàn. Tuy nhiên, có một thực tế rằng, sau này, quả thực, Lê Hoàn đã trở thành một trong những vị vua của nước Việt. Theo đó, khi cha mẹ qua đời sớm, Lê Hoàn được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi. Lớn lên, ông đi theo Nam Việt Vương Đinh Liễn và đã lập được nhiều chiến công.

Đinh Bộ Lĩnh giao cho ông chỉ huy 2.000 binh sĩ. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên nhà Đinh. Lê Hoàn có công lao trong cuộc đánh dẹp và được giao chức vụ Thập đạo tướng quân (tướng chỉ huy mười đạo quân), Điện tiền đô chỉ huy sứ, tức chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư.

Lúc đó ông mới 27 tuổi. Tháng 10 năm 979, cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua. Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính, tự do ra vào cung cấm. Các đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cùng tướng Phạm Hạp nổi dậy chống lại Lê Hoàn nhưng bị Lê Hoàn nhanh chóng đánh dẹp, ba người đều bị giết. Phò mã Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào Nam, cùng Vua Chiêm Thành với hơn nghìn chiến thuyền định đến đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết.

Thấy triều đình Hoa Lư rối ren, nhà Tống bên Trung Quốc có ý định cho quân tiến vào đánh chiếm Đại Cồ Việt. Vua Tống nhiều lần viết thư sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu hàng: “...Nếu quy phục thì ta tha cho, bằng trái lệnh thì ta quyết đánh...”.

Trước tình hình đó, Thái hậu Dương Vân Nga cùng tướng Phạm Cự Lạng và các triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua. Lê Hoàn lên ngôi, lấy tôn hiệu là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng đế, niên hiệu là Thiên Phúc, quốc hiệu vẫn là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư.

Theo SBĐ

Tin nóng

Tin mới