Hình ảnh người vợ trong thơ Trịnh Thanh Sơn

Gốc
Những vần thơ của Trịnh Thanh Sơn đã trở thành tài sản chung tụng ca những người vợ biết hy sinh cho tình yêu nên đã nhận được đủ đầy những ngọt ngào, thương mến.

Tôi chưa một lần tiếp xúc, chưa được nghe kể bất cứ điều gì về đời tư của Trịnh Thanh Sơn. Tôi chỉ tiếp cận với những cuốn sách của anh và đặc biệt là cuốn Vàng gieo đáy nước và dựa vào văn bản thơ mà phán đoán, mà suy luận.

Ấn tượng sâu sắc nhất của tôi là bóng dáng người vợ khá đậm nét trong thơ anh.

Anh thường đề tặng đích danh: Gửi L, Tặng M.L. Các bài thơ này thường rất dài, có dáng dấp của trường ca, mang một giọng kể khá đặc biệt. Đó là những dòng hồi tưởng, ngậm ngùi day dứt, tràn ngập tình yêu thương, sự biết ơn vô hạn đối với người bạn đời của Trịnh Thanh Sơn.

Thông thường, nhà thơ nào cũng có thơ tặng vợ và nịnh vợ nhưng viết nhiều về vợ như Trịnh Thanh Sơn kể ra cũng hiếm. Người phụ nữ ấy như thế nào mà được yêu đến vậy? Chị thật hạnh phúc khi đã trở thành M.L của Trịnh Thanh Sơn giống như nàng En-xa Tri-ô-lê (Elsa Triolet), người vợ tuyệt vời, nguồn thi hứng vô tận của nhà thơ Pháp nổi tiếng Lu-i A-ra-gông (Louis Aragon) vậy.

L là ai? L là “Mối tình đầu”, là người thiếu nữ dịu hiền, cử chỉ nhẹ nhàng, nữ tính: Em nhớ không, đêm trăng đầu tiên/ Anh đến với em,/ Người thiếu nữ dịu hiền/ ... Trên tay em cầm vài cọng cỏ/ Và rất nhẹ nhàng em xé nhỏ bỏ xuống chân/ ... tiếng em vang lên khe khẽ/ Và tan vào sương đêm.

Họ tỏ tình trong đêm trăng đẹp. Để rồi trong một đêm mưa họ lạc vào vườn ăn trái cấm và nhà thơ đổ tại môi em mềm như cốm. Đến sau này, mấy chục năm sau, năm 1996, nhà thơ vẫn con hồi nhớ: Em nhớ không cái đêm mưa đầu tiên/ Sấm chớp bay ngang mái tranh nhà giột/ Tai nương giọt tranh rơi tí tách/ Đêm nguyên trinh mà em hóa đàn bà.../ Em đàn bà chưa kịp có Xe hoa/ Em đàn bà mà Mẹ còn chưa biết/ Trong đắm say em nằm ôm gối khóc/ Nước mắt mặn hơn khi em đã đàn bà! (Nguyệt thực)

Nhà thơ xót xa, thương lắm người yêu nhỏ bé, có những ngón tay gầy: Mười sáu tuổi lần đầu/ Em bắc cầu giải yếm/ Cho người qua/ Ôi thương đóa Trà mi! Văng vẳng bên tai tôi là sự xót xa của Nguyễn Du với thân phận nàng Kiều: Tiếc thay một đóa trà mi/ Con ong đã tỏ đường đi lối về.

Đêm mưa ấy đã biến chàng trai thành một người đàn ông và người thiếu nữ đó thành đàn bà khi còn quá trẻ. Và để rồi những khó khăn nảy sinh: sau dịu ngọtnỗi đắng cay, sau ước mơnỗi kinh hoàng.

Yêu nhau, họ quyết định cưới nhau, thề theo nhau đến cùng trời cuối đất, dù chịu tội làm bố giận, mẹ buồn: Cái ngày em cắp nón theo tôi/ Lên Ủy ban làm lễ cưới/ Bố giận bỏ nhà đi/ Mẹ đứng trước thềm nhà nước mắt vòng quanh/ Cái ngày em cắp nón theo tôi/ Bom đạn ùng oàng khắp nơi/ Trên bàn ủy đầy giấy báo tử/ Tìm mãi mới ra tờ hôn thú (Nhớ lại)

Họ yêu nhau thật lòng và có hôn thú đàng hoàng, có pháp luật công nhận chứ có phải chuyện trăng hoa tuyết nguyệt đâu mà khổ vậy. Ôi, cái thời xưa thật là ấu trĩ, là cái thời mà quyền con người, quyền cá nhân, còn bị coi là thứ yếu, là một thứ xa xỉ.

Thế rồi, từ đấy hai người đã cắn chặt răng đến ứa máu tươi để tiếp tục sống với đời, và họ cầm tay nhau, với nụ cười ánh mắt nói lời thủy chung đi trong đêm vắng trời khuya, đường bùn nhão ướt.., đi cùng chuyến đò sông sâu nước cả để bước vào một cuộc sống khốn khó, vất vả chật vật.

Người vợ ấy được chồng đánh giá rất cao, chị vừa là người phụ nữ truyền thống có thủy chung, vừa là người phụ nữ rất hiện đại, dâng hiến hết mình cho tình yêu, gạt bỏ mọi rào cản xã hội, một người phụ nữ cũng yêu thơ đến hóa rồ hóa dại (Câu hát cuối cùng), vì đi trước thời đại nên chị như một hành tinh lưu lạc giữa trời, cô đơn và ít được mọi người thông cảm: Em là của cách đây hàng thế kỉ/ Và cũng sẽ mai này hàng thế kỉ/ Nên chiều nay/ Em cô đơn đi giữa mọi người...

Người đàn bà ấy nhiều nước mắt trong cái thời ấu trĩ của xã hội ấy: Nước mắt em/ Lăn trên ngực anh/ Như chuỗi hạt cườm sáng chói/ Em ơi/ (...)/ Chân trời thì xa/ Nước mắt em có thật (...)/ Ngày cũ đã lùi xa/ Ta vẫn nhớ, em rất nhiều nước mắt (Nguyệt thực).

Có lẽ nghĩ mình làm khổ vợ ngay từ buổi đầu đời nên lúc nào mà thơ họ Trịnh cũng dằn vặt, muốn an ủi vợ nhiều hơn, giãi bày nỗi lòng tình yêu của mình ra bằng câu chữ. Thiên hạ viết về vợ thì cảm thấy khó nhưng với Trịnh Thanh Sơn, lời yêu thương cứ ùa ra trôi chảy, kí ức những tháng ngày khốn đốn luôn tuôn trào trên trang giấy. Anh ước ao: Anh đưa em ra khỏi thế gian này/ Tới miền đất ước/ (…)/ Tới Vườn Đào hái quả/ Không ai cản ngăn/ Không ai cướp phá/ Không ai ghét ghen tị hiềm/ Không vu oan, giả dối/ Trong từng nụ hôn/ Không nước mắt đau buồn (Câu hát cuối cùng)

Người đàn bà ấy nhiều nỗi vất vả, làm vợ một anh chàng nghèo "Lấy anh em biết ăn gì/ Lộc sắn thì chát, lộc si thì già", chị phải bòn rau đi chợ, mua mớ tép con tôm (Gửi các con), tính toan lo nghĩ cạn chiều trong căn nhà có mười mét vuông. Chèo chống gia đình qua cái thời bao cấp vất vả. Chồng thường công tác xa, con cái, cửa nhà chỉ mình vợ chăm sóc: Đếm từng ngày mong con lớn khôn/ Trong cưu mang chỉ một vòng tay mẹ (Khúc ru xa)/ Một mình em thao thức trong đêm/ Tiếng mọt nghiến lòng thành thớ gỗ/ Cơn gió lạnh lọt vào khe cửa/ Một mình em trở dậy/ Một mình em chắn che... (Câu hát cuối cùng)

Người phụ nữ ấy rất biết tề gia nội trợ, chia ngọt sẻ bùi với chồng trong cuộc sống: Em gần gũi cạnh đời anh sớm tối/ Biết nấu canh trai và rán chả xương xông/ Biết thương nhau đến tận đáy lòng (Anh yêu em như thế biết làm sao)

Đến lúc đứng tuổi, ánh mắt chị vẫn thật dịu dàng nhìn ngắm con chim họa mi hót. Chị biết chăm cho cây thiết mộc lan nở hoa, biết dạy sáo nói, chu đáo chăm sóc bữa sáng cho cả nhà, trong đó có cả con chó lai phốc, chú gà chọi là những món quà quí mà bè bạn tặng chồng, tức là chị nâng niu niềm tự hào của chồng, vun vén, góp nhặt từng sợi tơ hạnh phúc cho gia đình. Chị là người mang sự sống, mang mùa xuân vào ngôi nhà hạnh phúc. Nhà thơ cảm động đã phải thốt lên: Đó là tất cả bí quyết của em- Những gì em yêu sẽ sống! Và giai điệu mùa xuân còn vang mãi trong ánh mắt em dịu dàng... (Giai điệu xuân)

Người đàn bà ấy không ghen với những nàng thơ của chồng, nàng rất hiểu chồng và chính vì vậy mà nàng được nhận đủ đầy tình yêu trọn vẹn: Ta nói/ Ta yêu cô gái mười tám/ Em không ghen!/ Ta nói/ Ta yêu cô gái đôi mươi/ Em cũng không ghen!/ Ta nói/ Ta yêu người thiếu phụ ba hai/ Em cười khanh khách.../ Buồn quá/ Ta ra nói với cá ở biển/ Rằng ta yêu em (Một tình yêu)

Đọc thơ Trịnh Thanh Sơn, đôi lúc phái nữ chúng tôi thầm ghen tỵ với hình ảnh người vợ được chồng yêu đến thế. Cưới nhau năm bảy hai cho đến năm chín bảy, dẫu đã thành vợ chồng nhiều năm mà họ vẫn có những cử chỉ âu yếm như thuở còn yêu nhau, vợ nũng nịu ghì cổ chồng như dây leo vững chắc, chồng hít hà hương bồ kết trên tóc vợ và khen chẳng có loại nước hoa nào thơm hơn, cùng tắm chung phòng, cùng trêu nhau rồi Phá lên cười với nhau.

Được ở bên vợ, nhà thơ thấy mình hạnh phúc, vợ đi xa thì nhớ mong trông ngóng: Vắng em ngày rộng quá/ Mây ngổn ngang trước nhà/ Mong nhớ là gì thế/ Mà bồn chồn vào ra (Nhớ)/ Ở bên nhau anh vui hơn em đi xa mà tưởng nhớ/ Anh đánh đổi cả vầng trăng trên đầu

Nếu tiếng guốc em vang lên đầu ngõ! (Anh yêu em như thế biết làm sao).

Không những được chồng yêu, chị còn được chồng nể và trọng nữa. Có lần nhà thơ buồn vì cành đào tết mình mang về chưa hài lòng vợ con. Hết ba ngày tết, vợ dọn cành đào. Đi làm về nhà thơ không thấy đào đâu nhưng không dám hỏi vì ... nể vợ: Cả nể không dám hỏi vợ/ Ngõ nhỏ một mình lang thang (Cành đào sau tết).

Đến khi đã 50 tuổi rồi mà bị vợ trách cũng chỉ cười hì hì như biết lỗi mình cả đời bị ma thơ nó ám chưa giúp được vợ con nhiều: Năm mươi tuổi đầu chưa lúc nào khôn/ Lại còn khuyên con đi làm nghệ sĩ/ Vợ nhăn mặt bảo: Ông này hâm tệ/ Đã dại một đời, còn xui dại con/ Đành cười hì hì, đành đánh trống lảng/ Ở đời ai biết ai dại ai khôn/ Tớ đây chỉ nghe theo lời ông ngoại/ Dẫu có khôn dại, cũng là dại khôn! (Ông ngoại)

Sau ba mươi năm, Trịnh Thanh Sơn vẫn cứ nhớ như in cái ngày 17- 12- 1972 hai người đi đăng kí kết hôn. Nhà thơ cảm ơn vợ những năm trường vất vả với chồng con. Hiểu được nỗi khổ của phận làm dâu, cái đức hy sinh, chung thủy của vợ mình: Nàng dâu phải cười khi lòng muốn khóc và chỉ được khóc khi có một mình. (...)/ Làm thiếu phụ mới là việc khó bởi thiếu phụ một đời chỉ biết vọng phu/ Và em đã vọng phu ba mươi năm qua để hôm nay em sắp lên bà. (Như vừa mới hôm qua).

Dù có đa tình như thói thường của các nhà thơ thì cuối cùng thi sĩ họ Trịnh vẫn phải khẳng định: Ta đã yêu em, yêu đến tột cùng/ Chua và ngọt/ Bồ hòn pha lẫn mật (Nguyệt thực) Không bài ca nào thay được em đâu/ (…)/ Câu hát cuối cùng/ Tôi lại hát về Em... (Câu hát cuối cùng). Có một người chồng biết động viên chia sẻ, biết tụng ca bằng những câu thơ chân thành gan ruột như thế, thử hỏi có người vợ nào mà lại không hởi lòng hởi dạ?

Người vợ ấy thật hạnh phúc khi đã trở thành suối nguồn cảm hứng của nhà thơ. Chị là nguyên mẫu những cũng là ước lệ để tạo ra hình ảnh tuyệt đẹp về người phụ nữ Việt Nam. Những vần thơ của Trịnh Thanh Sơn đã trở thành tài sản chung tụng ca những người vợ biết hy sinh cho tình yêu nên đã nhận được đủ đầy những ngọt ngào, thương mến.

Trong bài thơ "Tới em", Trịnh Thanh Sơn tiên cảm: Để được sống trong em và trong em tôi chết/ Trong vòng tay em tôi vĩnh viễn Hồi sinh!

Vâng! Nhà thơ họ Trịnh sẽ còn sống mãi, anh sẽ sống mãi trong những câu thơ tình yêu, anh sẽ sống mãi trong tâm tưởng người vợ hiền chung thủy.