Khai thác mỏ tùy tiện kiểu "tay không bắt giặc"

Gốc
(VTC News) - "Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp khai thác mỏ tùy tiện kiểu "tay không bắt giặc", Bộ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi Nguyên nhận xét như vậy tại buổi thảo luận về dự án Luật Thuế tài nguyên sáng nay (21/10).

» Năm 2010, bình quân đầu người khoảng 1.200 USD » Cử tri gửi gần 1.700 ý kiến, kiến nghị tới Quốc hội Tại buổi thảo luận, các ĐB Quốc hội đều có chung nhận định tình trạng khai thác tài nguyên ở nước ta hiện ngoài tầm kiểm soát, gây thất thoát, lãng phí lớn, vì vậy, sự ra đời của Luật Thuế tài nguyên là rất cần thiết. Bộ trưởng Bộ TN&MT)Phạm Khôi Nguyên (ĐB Hà Nội) nêu, hiện nay tình trạng khai thác tài nguyên vô tội vạ dẫn đến việc rất nhiều doanh nghiệp khai thác mỏ tùy tiện kiểu "tay không bắt giặc". Nhà nước thất thoát rất nhiều thuế từ tài nguyên, trong đó có tài nguyên khoáng sản vì tiền thuế thu về từ tài nguyên này rất ít. Ông Nguyên cho rằng, dự thảo Luật mới nhìn từ góc độ tăng thu ngân sách cho nhà nước, nhưng cũng cần tiếp cận đến góc độ tiết kiệm tài nguyên. 4 năm qua, Bộ TN&MT chỉ cấp vài trăm giấy phép khai thác, trong khi tại các địa phương đã cấp tới hơn 4.000 giấy phép. "Phải nâng trần thuế lên thì mới ngăn chặn được kiểu khai thác vô tội vạ" - Bộ trưởng nói. Cũng theo ông Phạm Khôi Nguyên, dự báo sau năm 2020, thế giới sẽ khủng hoảng thiếu khoáng sản, nguyên nhiên liệu vì nguồn cũ khai thác cạn kiệt trong khi chưa tìm được nguồn mới. Ở Việt Nam, 10 năm trước giao mỏ không ai nhận vì không có thị trường nhưng giờ đây, thị trường đã sôi động hơn, nhiều nước sẵn sàng mua khoáng sản của Việt Nam về để... trữ khoáng sản! Từ đó, khai thác khoáng sản rất tùy tiện, xin cấp phép khai thác cũng rất dễ. Ông Nguyên cho biết, trong vòng 4 năm, các địa phương đã cấp 4.000 giấy phép khai thác mỏ trong khi Bộ TN&MT một năm chỉ cấp hơn 100 giấy phép. Góp ý cho dự thảo Luật thuế Tài nguyên, ông Nguyên cho rằng, phải nâng trần thuế lên thì mới ngăn chặn được kiểu khai thác vô tội vạ. Tuy nhiên, ĐB Hà Văn Hiền (Hà Nội) lại cho rằng, nếu chính sách thuế chỉ thiên về hướng giữ tài nguyên là "lệch" vì tài nguyên chỉ có giá trị cao hơn khi được khai thác. Theo ĐB Hiền, lợi dụng thuế quá về mặt quản lý để hạn chế sử dụng sẽ kìm hãm sản xuất, trong khi thuế phải khuyến khích được sản xuất. Ông Hiền dẫn chứng, việc quy định lấy cành củi, tre nứa cũng bị đánh thuế và chỉ cho người được cấp phép lấy là hạn chế sinh nhai của người dân, không phù hợp với thực tế. Khung thuế suất quá rộng, dễ phát sinh "xin - cho" Nhiều ý kiến cho rằng, khung thuế suất đối với tài nguyên theo dự Luật của Chính phủ là quá rộng. Theo ĐB Nguyễn Đăng Trừng (TP Hồ Chí Minh), việc để khung thuế suất quá rộng sẽ dẫn tới việc tùy tiện trong áp dụng, khiến các nhà đầu tư không yên tâm. Đại biểu Đặng Văn Khanh (Hà Nội) nói, cần phải thu hẹp khung thuế suất bởi khung rộng quá sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện. Đồng tình, ĐB Phạm Khôi Nguyên (Hà Nội) dẫn chứng, khung thuế đối với măngan từ 5 - 20%, nhưng mức đề suất áp dụng chỉ là 7%, độ "doãng" này là quá lớn, như vậy dễ phát sinh tình trạng xin - cho. ĐB Nguyễn Văn Bé (TP Hồ Chí Minh) cũng đặt câu hỏi, tại sao thuế suất với gỗ trong dự thảo Luật lại thấp hơn Pháp lệnh Thuế tài nguyên 2008? Cụ thể, Pháp lệnh năm 2008 quy định thuế suất đối với gỗ mộc là 10-40 %, còn tại dự thảo Luật Thuế Tài nguyên lại quy định thuế suất 20-35%. Theo đó, ĐB Bé kiến nghị Ban soạn thảo cần phải nghiên cứu thêm để đưa ra mức thuế suất hợp lý để hạn chế khai thác gỗ, khuyến khích việc trồng rừng và thuế suất phải phù hợp với quy luật tái tạo của tài nguyên thiên nhiên. Nhiều ĐB đề nghị dự thảo Luật cần làm rõ hơn về khung thuế suất, ĐB Nguyễn Đăng Trừng (TP Hồ Chí Minh) cho rằng, hoàn toàn có cơ sở để thu hẹp khung thuế suất. Cũng trao đổi về khung thuế suất với tài nguyên, ĐB Ngô Minh Hồng (TP Hồ Chí Minh) lại cho rằng để khung thuế suất rộng sẽ linh hoạt trong điều hành. Tuy nhiên, ĐB Hồng cũng bày tỏ mối quan ngại về việc khung thuế suất rộng sẽ dẫn tới tình trạng tùy tiện trong áp thuế. ĐB này gợi ý, nên giao cho UBTVQH quy định chi tiết mức thuế suất cụ thể để hạn chế tình trạng tùy tiện trong áp thuế. Có nên đánh thuế với khai thác nước ngầm? Bộ trường Phạm Khôi Nguyên cũng có ý kiến, đối với tài nguyên nước, chúng ta cho rằng đây là thứ trời cho và đang sử dụng lãng phí. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế sử dụng nước hiệu quả thông qua điều tiết chính sách thuế thì trong thời gian tới, sự tranh chấp giữa các thành phần kinh tế như thủy điện, nông nghiệp, nước sinh hoạt sẽ rất lớn. ĐB Nguyễn Ngọc Đào (Hà Nội) đề nghị, khai thác nước ngầm dùng cho sản xuất, kinh doanh phải chịu thuế, thậm chí, nước mặt dùng để sản xuất, kinh doanh nước sạch cũng như vậy. Ông Đào cho rằng, cần triển khai ngay, nếu chờ tới khi tài nguyên cạn kiệt mới đặt vấn đề thuế với khai thác tài nguyên này thì...quá muộn! Còn theo ĐB Phạm Việt Dũng (TP Hồ Chí Minh), hoạt động khai thác nước ngầm tại những thành phố lớn diễn ra phổ biến, có thể ảnh hưởng tới cấu tạo địa chất, vì vậy, tùy theo từng khu vực, phải đưa việc khai thác nước ngầm vào tính thuế. Trái chiều với ý kiến trên, ĐB Nguyễn Đăng Trừng (TP Hồ Chí Minh) lại cho rằng không nên đánh thuế khai thác nước ngầm vì "nó" giải quyết nhu cầu cấp thiết của người dân, nhất là những người có thu nhập thấp ở các vùng khó khăn. Theo Báo cáo thẩm tra dự án luật Thuế Tài nguyên của UB Tài chính Ngân sách của Quốc hội thì, khi thảo luận vấn đề thuế đối với khai thác nước ngầm tại UB Tài chính Ngân sách cũng có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, để hạn chế việc lãng phí nguồn tài nguyên nước ngầm, cần đánh thuế ở mức hợp lý với tài nguyên này. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng, trong điều kiện doanh nghiệp chưa cung cấp đủ nước sạch thì việc khuyến khích nhân dân sử dụng nguồn nước ngầm là hợp lý, vì vậy chưa đưa nước ngầm vào diện chịu thuế. Kiều Minh

Tin nóng

Tin mới