Khó cũng phải làm

Gốc
Nhu cầu vật liệu xây dựng đang ngày càng lớn, đặc biệt đối với gạch xây, trong khi cách thức sản xuất phổ biến ở nước ta hiện nay vừa gây ô nhiễm môi trường vừa lãng phí tài nguyên. Thời gian qua, việc thay thế những lò gạch nung thủ công bằng công nghệ thân thiện với môi trường, đồng thời phát triển vật liệu không nung là nhiệm vụ trọng tâm của ngành xây dựng. Hiện, bắt đầu có những bước tiến khả quan trên thực tế...

Xu hướng tất yếu Dự án hỗ trợ kỹ thuật sản xuất gạch bền vững tại Việt Nam (VSBP) được thực hiện tại tỉnh Nam Định do Chính phủ Thụy Sĩ tài trợ là một trong những chương trình hướng đến mục tiêu tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường trong sản xuất gạch nung. Theo ông Nguyễn Tất Sơn, Phó giám đốc Sở Xây dựng Nam Định, công nghệ lò đứng vốn là công nghệ truyền thống lâu nay đã bộc lộ nhiều yếu điểm như: Điều kiện làm việc của công nhân độc hại, chật hẹp, mức độ cơ giới hóa thấp, chất lượng sản phẩm không cao… Từ lý do đó, dự án VSBP đã hỗ trợ các hộ sản xuất gạch quy mô nhỏ chuyển sang công nghệ mới với nhiều ưu điểm quan trọng là tăng hiệu suất nung, kiểm soát lượng khí thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện làm việc cũng như mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh chuyển đổi công nghệ, định hướng phát triển vật liệu xây dựng ở nước ta còn theo hướng tăng cường sản xuất vật liệu xây không nung (VLXKN) thay thế cho gạch nung. Trên thực tế, gạch nung cho dù theo công nghệ hiện đại cũng sẽ tiêu tốn một lượng lớn đất sét cũng như đốt cháy nhiều nhiên liệu. Ước tính, để sản xuất một tỉ viên gạch nung kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1,5 triệu m3 đất sét, 150 nghìn tấn than và thải ra khoảng 0,57 triệu tấn khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Dự báo, năm 2020 nhu cầu vật liệu xây dựng nước ta khoảng 42 tỉ viên gạch, con số tiêu tốn sẽ tăng lên khoảng 60 triệu m3 đất sét, hơn 5 triệu tấn than và thải ra 17 triệu tấn khí CO2. Từ đó có thể thấy, sử dụng VLXKN sẽ là xu hướng tất yếu trong tương lai khi mà tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm. VLXKN không chỉ giải quyết những tác động bất lợi về môi trường, tài nguyên mà còn sử dụng chủ yếu là tro, xỉ, phế thải của các ngành công nghiệp như nhiệt điện, luyện kim, khai khoáng… Nhiều loại VLXKN có đặc tính nhẹ, cách nhiệt cao, giảm trọng lượng công trình, đẩy nhanh tiến độ thi công. Từ những ưu điểm đó, quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng ở Việt Nam đặt ra mục tiêu đến năm 2020 VLXKN phải chiếm 30 đến 40% tổng số vật liệu. Nhiều chính sách ưu đãi Với nhiều ưu điểm đã được kiểm nghiệm, nhưng trên thực tế VLXKN vẫn chưa được sử dụng rộng rãi. Theo ông Phạm Văn Bắc, Phó vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), sản phẩm vật liệu nung truyền thống đã đi vào tiềm thức người dân, vì vậy để thay đổi tập quán này không thể một sớm một chiều. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn kỹ thuật để sản xuất cũng như sử dụng VLXKN đang trong quá trình hoàn thiện cũng là một trở ngại. “Để VLXKN được sử dụng rộng rãi cần có những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, khuyến khích các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ mới cũng như sử dụng vật liệu này vào công trình xây dựng”, ông Phạm Văn Bắc chia sẻ. Hiện nay, nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các dự án sản xuất VLXKN đã được triển khai. Những tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực này sẽ được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước; trang thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất được miễn thuế nhập khẩu, ngoài ra còn có những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, theo lộ trình phát triển VLXKN ở nước ta, từ năm 2011 các công trình xây dựng đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước tại đô thị loại 2 trở lên phải sử dụng ít nhất 50% VLXKN loại nhẹ trong tổng số vật liệu, từ năm 2015 tỉ lệ này áp dụng tại tất cả các đô thị. Còn với công trình sử dụng nguồn vốn khác, từ năm 2012 VLXKN sẽ phải chiếm 30% tại đô thị loại 2 trở lên và áp dụng cho tất cả các đô thị từ năm 2016. Đây là một cơ chế cần thiết để đưa VLXKN trở thành một phần thiết yếu của công trình xây dựng. Một thuận lợi nữa là giá thành sản phẩm cũng như chi phí đầu tư dây chuyền sản xuất VLXKN hiện nay tương đương với vật liệu nung được sản xuất theo công nghệ hiện đại. Song song với đẩy mạnh sản xuất VLXKN, để thay thế lò gạch thủ công truyền thống, công nghệ lò tuy-nen thân thiện với môi trường cũng sẽ được chú trọng. Việc xóa bỏ lò thủ công truyền thống ở nhiều địa phương là quá trình lâu dài, phức tạp bởi đã trở thành ngành nghề lâu đời, nhưng ông Phạm Văn Bắc tin tưởng rằng, với sự hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật, tăng cường các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cũng như có biện pháp cương quyết hơn trong xử lý lò thủ công gây ô nhiễm môi trường, thì những mục tiêu đề ra có thể đạt được. Bài và ảnh: Mạnh Hưng

Tin nóng

Tin mới