Kích thích kinh tế còn bình quân và dàn đều

Gốc
(VnMedia)- Đánh giá về hạn chế của gói kích thích kinh tế thứ nhất, Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội cho rằng gói kích thích kinh tế của Chính phủ còn mang tính bình quân và dàn đều, chưa xác định rõ trật tự ưu tiên.

Dàn đều, giải ngân chậm Chiều 20/10, thay mặt Ủy ban Tài chính -Ngân sách, chủ nhiệm Phùng Quốc Hiển đã trình bày báo cáo thẩm tra đánh giá tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2009; dự toán NSNN và phương án phân bổ NSTW năm 2010. Ủy ban đã cơ bản nhất trí với đánh giá của Chính phủ về những kết quả đạt được về tăng trưởng kinh tế trên 5%, chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 7%; tổng thu NSNN ước đạt 390.650 tỷ đồng, bằng 100,2% dự toán ; chi NSNN ước đạt 533.005 tỷ đồng, tăng 8,5% so với dự toán ... Ủy ban ghi nhận trong điều kiện kinh tế khó khăn, chính sách tài khóa đã được Chính phủ sử dụng như một công cụ có vai trò chủ đạo thông qua việc miễn, giảm, giãn thuế, tăng chi và tăng bội chi ngân sách đột biến để thúc đẩy tăng trưởng và chống suy giảm kinh tế. Cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng được thực hiện nới lỏng có mục tiêu, có kiểm soát, khống chế mức tăng trưởng tín dụng hợp lý, tăng cường quản lý ngoại hối, giữ vững ổn định tỷ giá hối đoái trong biên độ cho phép, sử dụng công cụ lãi suất khá linh hoạt, phối hợp khá tích cực với chính sách tài khóa tạo nên sự đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Chủ nhiệm Ủy ban tài chính - Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển trình bày Báo cáo thẩm tra tình hình thực hiện dự toán NSNN năm 2009; dự toán NSNN và phương án phân bổ NSTW năm 2010 Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Ủy ban Tài chính - Ngân sách cho rằng chính sách tài chính tiền tệ vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đó là: chưa tận dụng được cơ hội và tạo đòn bẩy để bước đầu chuyển đổi và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tích cực; gói kích thích kinh tế của Chính phủ còn mang tính bình quân và dàn đều, chưa xác định rõ trật tự ưu tiên, triển khai nhiều mục tiêu nhưng giải ngân còn chậm; Cùng với đó là tình trạng khó tiếp cận với chính sách của một số đối tượng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn và nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã phần nào làm giảm hiệu quả của chính sách tài chính năm 2009. Một thực tế là lượng vốn lớn được đưa vào nền kinh tế nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, làm cho hệ số sử dụng vốn (ICOR) tăng lên; chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cùng được nới lỏng sẽ làm tăng nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát trong giai đoạn tới. Một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN là thu từ dầu thô. Năm 2009, dự toán thu từ dầu thô đạt 63.700 tỷ đồng (với sản lượng khai thác 15,86 triệu tấn, giá bán bình quân 70 USD/thùng); tuy nhiên tới nay ước thực hiện cả năm đạt 58.000 tỷ đồng, giảm 5.700 tỷ đồng so với dự toán (với sản lượng khai thác 15,4 triệu tấn, giá bình quân ở mức 58-59 USD/thùng). Ủy ban Tài chính - Ngân sách cho rằng, năm 2009, do biến động của tình hình kinh tế thế giới và dầu thô khai thác giảm cả về giá và sản lượng nên số thu từ dầu thô cũng giảm so với dự toán. Như vậy, 3 năm liên tiếp đều xảy ra tình trạng sản lượng dầu thô giảm so với dự toán: Năm 2006 kế hoạch 18,5 triệu tấn, thực hiện 17,5 triệu tấn; năm 2007 kế hoạch 17,5 triệu tấn, thực hiện 15,1 triệu tấn; năm 2008 kế hoạch 15,49 triệu tấn, thực hiện 15,42 triệu tấn. Trước tình hình giá dầu thô thế giới biến động bất thường, khó dự báo, cùng với sản lượng khai thác dầu thô nhiều năm không đạt kế hoạch, Ủy ban Tài chính - Ngân sách cho rằng Chính phủ cần đổi mới công tác xây dựng dự toán, có tầm nhìn dài hạn để tránh tình trạng áp đặt sản lượng và dự báo không sát về giá dầu, gây bị động trong cân đối ngân sách. 'Khống chế' bội chi không quá 6% Với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến khoảng 6,5%, Chính phủ đã đề nghị mức bội chi NSNN bằng 6,5% GDP (125.500 tỷ đồng), với mức dư nợ Chính phủ dự tính bằng 44,6% GDP. Một số ý kiến của Ủy ban Tài chính - Ngân sách nhất trí với phương án của Chính phủ và cho rằng, việc giảm dần mức bội chi xuống 5% GDP là cần thiết để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, thu NSNN còn gặp khó khăn, tốc độ tăng thấp, sức ép tăng chi NSNN lớn; vì vậy, việc giảm bội chi cần phải có lộ trình cụ thể và khả thi. Việc giảm mức bội chi xuống 6,5% GDP là một bước trong lộ trình giảm bội chi trong giai đoạn 2010 - 2013 xuống mức bình quân 5% GDP. Đa số ý kiến đề nghị Chính phủ cần cân nhắc mức bội chi NSNN 6,5% GDP, vì mức bội chi ngân sách trong 2 năm (năm 2009-2010) dự kiến về số tuyệt đối tăng cao gần gấp 2 lần so với năm 2008, cùng với nguồn chi từ vốn trái phiếu chính phủ hàng năm liên tục ở mức 50-60 nghìn tỷ đồng và một số khoản chi khác không tính trong bội chi ngân sách làm cho mức bội chi thực tế của NSNN cao hơn nhiều so với số báo cáo Quốc hội, đồng thời với mức dư nợ Chính phủ hiện nay đang ở mức cao (khoảng 44,6% GDP), chưa bao gồm khoản vay của địa phương theo khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN và các khoản tạm ứng ngân sách luân chuyển qua các năm. "Nếu tiếp tục để bội chi NSNN ở mức cao, tạo ra nguy cơ rủi ro an ninh tài chính quốc gia và gia tăng khả năng lạm phát cao quay trở lại. Vì thế, Ủy ban Tài chính - Ngân sách đề nghị Chính phủ nên giữ mức bội chi ngân sách không quá 6% GDP là hợp lý" - ông Phùng Quốc Hiển nói. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2009 và dự kiến kế hoạch 2010 của Chính phủ: STT Chỉ tiêu Đơn vị Chỉ tiêu QH Ước TH 2009 Dự kiến 2010 1 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) % 5,0 5,2 6,5 2 Tăng kim ngạch XK % 3 - 9,9 6 3 Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP % 39,5 42,2 41,0 4 Chỉ số giá tiêu dùng % < 10 7 7 5 Số địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỉnh 55 55 63 6 Tăng tuyển mới đại học, cao đẳng % 11,4 9,2 12 7 Tốc độ tăng tuyển mới trung cấp chuyên nghiệp % 15,6 11,4 15 8 Tốc độ tăng tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề % 18 18,2 17 9 Mức giảm tỷ lệ sinh %0 0,2 0,2 0,2 10 Tạo việc làm Triệu người 1,7 1,51 1,6 Trong đó: lao động xuất khẩu Vạn người 9 7 8,5 11 Tỷ lệ hộ nghèo % 12 11 < 10 12 Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng % < 19 18,8 18 13 Số giường bệnh trên 1 vạn dân Giường 26,85 27 27,5 14 Diện tích nhà ở đô thị bình quân đầu người m2 12,2 13,1 13,5 15 Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh % 79 79 83 16 Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch % 85 82 84 17 Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý % 65 67 70 18 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị % 82 82 85 19 Tỷ lệ xử lý chất thải nguy hại % 65 65 - 20 Tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý % 75 75 80 21 Tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn % 65 43 45 22 Tỷ lệ che phủ rừng % 39,8 39,4 40 Quỳnh Trang

Tin nóng

Tin mới