Ký ức Trường Sa

Gốc
(ĐSCT) Tôi đến Trường Sa cách đây vừa đúng mười năm. Trong ba lô của chàng sĩ quan mới ra trường chỉ vẻn vẹn bộ quần áo, chiếc máy ảnh cũ mèm và sự háo hức của người lần đầu đi biển. Nhìn tôi ngó trước ngó sau chuẩn bị “ổ” để say sóng có chỗ ngả lưng, anh lính già cười cười : “Tháng ba bà già đi biển, huống chi sức dài vai rộng như cậu…”. Câu khích tướng có hiệu quả tức thì, tôi bước vội khỏi phòng, căng ngực đón những ngọn gió ào ạt tanh nồng vị biển.

THÁNG BA BÀ GIÀ ĐI BIỂN… Lính trẻ Trời sẩm tối. Từng tốp ghe câu bật đèn sáng trưng trông như dãy phố bồng bềnh trôi trên biển. Tôi nằm trên boong, giang rộng hai tay, mặc cho gió giật ù ù như muốn lật sấp người trở lại. Bất ngờ có tiếng phành phạch rất lớn từ đâu ào tới. Sát trên đầu, một con chim sải cánh cả mét chao đi chao lại rồi thản nhiên đậu xuống mũi tàu. Tôi chợt nhớ câu chuyện của một ngư phủ từng lênh đênh trên biển khi tàu bị hỏng. Hết thức ăn, họ cũng bắt chước nhân vật trong truyện cổ tích giả chết để đánh lừa lũ chim ngờ nghệch. Họ háo hức vặt lông, gắng sức dùng dao xẻ thịt con chim xấu số. Chỉ có điều khi tất cả các tế bào bị bỏ đói lâu ngày được đánh thức cũng là lúc họ ngậm ngùi đổ ụp nồi thịt chim xuống biển bởi không thể nào nhai nổi món thịt dai nhoanh nhoách như cao su. Có lẽ như thế chúng mới có thể tồn tại giữa biển khơi đầy sóng gió và bão tố. Năm giờ sáng. Cả tàu bị đánh thức bởi tiếng xô chậu đập loảng xoảng. Tôi theo mọi người ùa ra ngoài. Cách tàu chừng vài chục mét, một đàn cá heo đang vô tư nhào lộn. Sau mỗi cú tung mình khỏi mặt nước, các chú lại cắm phập đầu xuống biển rồi bất ngờ lao vọt lên, dũng mãnh như những quả ngư lôi đen trũi. Không biết tự bao giờ, người đi biển hễ gặp cá heo là chào bằng những âm thanh hân hoan ồn ã. Có lẽ bị kích thích nên tiếng đập càng to, xô chậu càng móp méo thì màn nhào lộn của các chú càng sôi động. Lúc đặt chân xuống tàu, tôi vô cùng lạ lẫm khi thấy giường của anh lính nào cũng có tới hai chiếc gối ôm. Điều băn khoăn đó cuối cùng cũng có lời giải khi cơn say sóng giúi tôi xuống chiếc giường có gờ cao bốn phía. Anh thợ máy tên Quân lấy hai chiếc gối ôm chèn quanh tôi như các bà mẹ vẫn chèn trẻ sơ sinh khi nằm võng. Chèn như vậy mỗi khi tàu lắc lư, người nằm trên giường sẽ không bị sóng quăng quật từ bên này sang bên kia. Để chống sóng, mọi vật trên tàu từ tivi, phích nước đến nồi nấu cơm đều được chằng buộc cẩn thận bằng các thanh giằng kim loại. Trong khi tôi lao ra thành tàu phun cả mật xanh mật vàng xuống biển thì mọi người trên tàu vẫn thản nhiên làm việc, như thể những cơn sóng bạc đầu gào thét ngoài kia chẳng liên quan gì đến họ. Anh Quân kể những ngày bão lớn, có khi người lái tàu phải đeo lủng lẳng trên cổ chiếc xô, vừa ói vừa ôm bánh lái. Sáng ngày thứ ba, chúng tôi tới đảo Thuyền Chài. Từ xa, đảo chìm như một đốm đen nhỏ xíu lớn dần theo hành trình của con tàu. Cứ nghĩ ở nơi cách đất liền hàng trăm hải lý thế này chỉ có đàn ông, chim trời và mênh mông sóng nước nhưng hóa ra vẫn có bóng dáng con gái. Chỉ có điều đó không phải là cô gái bằng xương bằng thịt mà là nhân vật trong truyền thuyết tình yêu tuyệt đẹp về sự tích của đảo. Vẫn biết chỉ là sự tích nhưng khi được nghe ở một nơi bốn bề là nước, bên những chú chó tinh ranh quấn người và làn khói mỏng tang nhè nhẹ tan trong nắng trời vàng rực mới cảm nhận hết được sự thiêng liêng và vẻ đẹp của quê hương, của tình yêu đôi lứa. Những người lính ào ra đón chúng tôi ngay mép nước. Ai cũng chắc nịch như cây gỗ đã luyện qua dầu, làn da đen bóng khiến nụ cười càng thêm rực rỡ. Trong dãy phòng vừa dùng để ở vừa là công sự chiến đấu, dễ dàng nhận thấy bên cạnh nếp sinh hoạt nhà binh là một không khí ấm cúng theo kiểu gia đình. Những người lính gọi nhau là “quê”. Một cách gọi vừa trìu mến vừa thân thiện dù hai người quê cách nhau hàng trăm cây số. Trên nóc tủ, một mâm ngũ quả có đủ bưởi, cam, na... chỉ có điều tất cả đều cắt bằng hộp xốp, được tô màu rất khéo. Mấy tờ báo tường cây nhà lá vườn theo từng đợt chủ đề treo ngay ngắn trên tường đủ cả truyện ngắn, biếm họa và thơ tình. Tôi đứng rất lâu để ngắm một anh lính trẻ hái rau. Hai bàn tay anh nâng từng cánh rau, nhẹ nhàng như nâng một cành hoa. Anh ngắm nghía hồi lâu rồi chọn những lá to nhất tỉa một cách cẩn thận như nghệ nhân chăm bẵm cây bonsai quý. Có lẽ chẳng nơi nào rau được nâng niu như ở nơi này, mỗi cây rau không đơn giản là nguồn thực phẩm mà còn là nguồn vui giúp người lính vợi bớt nỗi nhớ nhà. Suốt mấy ngày ở đảo chìm, những người lính nơi đây đã dạy cho tôi biết thế nào là lạc quan khi nụ cười lấp lóa chẳng bao giờ tắt trên khuôn mặt sạm đen của họ. BIỂN BẠC TRƯỜNG SA Rời đảo chìm, chúng tôi tiếp tục hành trình đến Trường Sa lớn. Buổi tối, đám lính trẻ kéo đèn néon treo dọc mạn tàu để vớt cá. Khi vầng sáng trắng bừng tỏa trên mặt biển cũng là lúc hàng đàn cá chuồn say đèn ào ào lao tới. Chứng kiến đàn cá vừa bơi tung tăng vừa tung cánh bay rào rào như hàng trăm mũi tên bạc mới thấy hết sự kỳ thú của biển cả. Để vớt cá, chỉ cần cầm chiếc vợt đón đúng hướng bay và nhanh tay một chút. Nhiều chú say đèn lao thẳng vào thành tàu như tự sát rồi rơi tõm xuống nước. Cá chuồn vớt được thường để dành làm mồi câu. Ném lưỡi câu có gắn khúc cá chuồn ra xa, anh Quân chìa cho tôi xem đôi bàn tay chằng chịt vết sẹo do dây cước cà xiết. Biển vốn hào hiệp và phóng khoáng nhưng khi ban tặng những sản vật của mình cũng không quên thử thách người đón nhận. Hồi ở đảo Tốc Tan, anh vừa buông câu thì dính ngay con mập xám. Không kịp đeo găng, anh cứ tay trần vật lộn cùng cá dữ. Hơn một tiếng đồng hồ liên tục ghì, kéo, có những lúc các đốt ngón tay như đứt rời, đau buốt tới tận óc, anh vẫn nghiến răng không chịu buông con mồi. Khi chiếc móc sắt cắm phập vào bụng con cá lôi lên mặt boong anh mới chịu thả sợi dây câu khỏi đôi bàn tay đầm đìa máu. Đang mải mê kể chuyện, anh Quân bỗng nhoài người vồ lấy sợi cước. Nhấp nhấp sợi dây, anh dừng lại nhíu đôi lông mày vạt nhọn như lưỡi mác. Một cảm giác là lạ truyền qua từng ngón tay. Chiếc đèn néon dài cả mét gắn vào cây được mang tới. Tiếng đập nước bắn tung tóe khiến tôi háo hức nhoài ra thành tàu. Khi những mét cước cuối cùng thu lên, mọi người kinh ngạc thấy dưới làn nước xanh, một con rắn biển khổng lồ đang tùm tùm quẫy đạp. Con rắn ngoác rộng cái miệng lởm chởm răng quằn quại một cách đau đớn. Mỗi khi cong mình ghì sợi dây trở lại mặt nước, cái bụng to như cột nhà của nó gồ lên góc cạnh, nhìn rất ghê rợn. Cuối cùng con rắn cũng được kéo lên. Nó trườn tới đâu, mọi người dạt ra rồi tụ lại hệt như cảnh săn thú dữ. Toàn thân con rắn lốm đốm một thứ hoa văn kỳ quái. Cái đầu hình tam giác của nó nhang nhác đầu cá lóc nhưng dữ tợn vô cùng. Một anh lính vác chiếc chày sắt đập thẳng xuống. Sau cú đập chí mạng, con quái vật quằn mình chịu đòn rồi bất ngờ lao thẳng về phía trước. “Lấy nước nóng mà dội!”, tiếng ai đó nhắc. Nồi nước nghi ngút khói được mang đến. Cuộc hành quyết kết thúc bằng cơn giãy chết dữ dội kéo dài hàng chục phút. Khi bụng con vật được phanh ra, mọi người kinh ngạc thấy trong bao tử nó có ba chiếc đầu cá bò bọc thép mà tàu quăng đi bữa tối, mỗi chiếc nặng hàng ký. Nhìn kỹ con vật, anh Quân khẳng định đó là một con chình biển khổng lồ. Đến đảo Trường Sa, tôi may mắn gặp lại Trường, người bạn học cùng sĩ quan dự bị. Ăn tối xong, Trường rủ tôi ra bãi san hô kiếm cá. Đồ nghề là đèn pin, giày cao cổ bộ đội và một con dao bài. Xỏ đôi giày nặng trịch vào chân, chúng tôi lội xuống bãi san hô xăm xắp nước. Dưới ánh đèn, những chú cá nhỏ đủ màu sắc bơi tung tăng, thản nhiên như thể chúng tôi cũng chỉ là một loài sinh vật biển. Thấy tôi như bị thôi miên bởi bể cá khổng lồ, Trường cười bảo: “Đi thôi, có chỗ còn đẹp hơn nhiều”. Vừa dứt câu, Trường bỗng khom người luồn tay vào rặng san hô trước mặt. Sau cái cắn răng quả quyết, cậu nhấc vụt cánh tay lõng bõng nước giơ lên trời, cười khoái trá. Trong tay Trường, một con bạch tuộc nặng cả ký đang huơ huơ chiếc vòi tuyệt vọng. Chiều hôm sau, khi trời vợi nắng, đám lính trẻ lại kéo tôi ra mũi tàu câu cá. Lần này chúng tôi câu bằng mồi giả. Tôi chưa thấy kiểu câu nào dễ dàng đến thế. Chỉ cần thả chiếc cần câu dài bốn năm mét gắn những túm dây kim tuyến xuống nước nhấp nhấp vài cái là kéo lên một dây bốn năm chục con bạc má, nhìn như cành khế sai lúc lỉu. Một người câu phải có hai, ba người cùng gỡ. Chốc lát, đống cá cao có ngọn đã vun đầy góc tàu.

Tin nóng

Tin mới