Lãi suất cơ bản mất dần ý nghĩa

Gốc
Kể từ đầu năm 2009 đến nay (4 tháng liên tiếp), lãi suất cơ bản được duy trì ổn định ở mức 8%/năm. Nhưng khác trước đây, lãi suất cơ bản bây giờ chỉ còn mang tính chất tượng trưng.

Không ngoài dự đoán của nhiều chuyên gia trong nước, lãi suất cơ bản (LSCB) tháng 3 được tiếp tục giữ nguyên. "Đường gần lại cứ đánh vòng cho xa” Theo số liệu của Tổng cục Thống kê chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 của cả nước so với tháng 12.2009 đã tăng 3,35%, với tốc độ tăng này chỉ tiêu 7% sẽ đạt tới ngay trong nửa đầu năm 2010. Suốt tuần qua, mối lo ngại về lạm phát đang lan rộng. Đúng ra theo nguyên lý thông thường trong bối cảnh như vậy một NHTƯ có thể đã phải quyết định nâng lãi suất. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại lần thứ tư giữ nguyên LS ở mức 8%/năm. Công cụ LSCB của NHNN đã phát huy hiệu quả trong năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009 ở bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiều biến động, LSCB đã được điều chỉnh tăng/giảm nhiều lần, góp phần kiềm chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế... Tuy nhiên từ cuối năm 2009 đến nay, khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi, chỉ số CPI bắt đầu tăng trở lại thì việc NHNN duy trì quá lâu LSCB mức 8%/năm với quy định trần lãi suất của Bộ luật Dân sự đã không còn phù hợp với thực tiễn vả mất dần tính định hướng thị trường. Lãi suất kinh doanh thực tế các NHTM giao dịch với khách hàng đã vượt khá xa so với trần quy định. Tình trạng hai lãi suất tồn tại đã làm nảy sinh nhiều tiêu cực và tốn các chi phí không đáng có của cả NH và khách hàng. Có lẽ, NHNN cũng biết rõ điều này. Người ta có cảm giác quyết định LSCB gần đây của NHNN chịu nhiều áp lực. Trong một bối cảnh vừa phải thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa kiềm chế lạm phát thì NHNN - đồng thời là cơ quan thuộc Chính phủ khá khó khăn trong việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT). Một bên là chi phí vốn của DN hoạt động sản xuất-kinh doanh, một bên là hệ thống các TCTD đang trong tình trạng cơ cấu thu nhập chủ yếu dựa trên thu nhập từ lãi (cho vay, tiền gửi), thu nhập từ dịch vụ thấp, mức sinh lời cận biên đang giảm dần; cơ cấu nguồn vốn, sử dụng vốn không có sự ăn khớp; một số hệ số an toàn đã tiến đến giới hạn... Tăng LSCB là một hành động trực tiếp nâng ngay trần lãi suất cho vay, khiến nhiều DN, nhất là các tập đoàn lớn có dư nợ vay hàng chục, hàng trăm tỉ khó mà chịu đựng được, có thể gây những phản ứng gay gắt. Nhưng nếu giữ nguyên LSCB không khuyến khích được cả người gửi tiền lẫn NH. Trong bối cảnh này, NHNN chọn giải pháp mềm, hay như một số chuyên gia bình luận là chọn đường vòng (vừa tránh cho khách hàng của NH đỡ sốc, vừa gỡ các “nút thắt” cổ chai của NH về thanh khoản và tín dụng) bằng cách giữ nguyên LSCB và cho phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận (LSTT) đối với cho vay trung-dài hạn (còn có thông tin NHNN đang cân nhắc việc không/hay có cho NHTM thu phí cho vay ngắn hạn). Tăng lãi suất cho vay để NH có lãi trong cho vay, kéo theo có thể nâng lãi suất tiền gửi mà huy động vốn vào NH, vừa giải quyết bài toán thanh khoản, vừa giải quyết bài toán tín dụng cho nền kinh tế. Thực chất là tăng LSCB Với hai quyết định về lãi suất vừa qua của NHNN, LSCB đã mất dần ý nghĩa trong việc định hướng LS thị trường. Từ tháng 3 trở đi, LSCB chỉ còn giá trị danh nghĩa với lãi suất cho vay ngắn hạn (nhưng thực tế cũng ít khách hàng được vay ngắn hạn với đúng giá 12%/năm). Vừa điều chỉnh cho vay trung-dài hạn theo LSTT, vừa giữ nguyên LSCB thì về bản chất chính là tăng LSCB khác chăng chính sách không đi thẳng đuột mà lại đi vòng. Một chính sách đi vòng làm thị trường cảm thấy sự lúng túng, không rõ ràng, không minh bạch. Một điều nữa mà người ta cũng cảm nhận thấy là công cụ lãi suất của NHNN đang mất dần hiệu quả (trong khi đó lãi suất là công cụ ngày nay được các NHTƯ sử dụng nhiều nhất). Đó là chưa kể trên thế giới, nhiều NHTƯ vẫn duy trì chính sách LS thấp. Ví dụ, vừa qua Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Ben Bernanke cho biết, thị trường lao động yếu ớt và nguy cơ lạm phát yếu ớt là những yếu tố khiến FED sẽ kéo dài mức lãi suất thấp thêm một thời gian nữa. Doanh nghiệp phải vay vốn giá cao Dù LSCB không tăng, nhưng với việc cho phép áp dụng cơ chế LSTT cho vay trung-dài hạn chắc chắn sẽ dẫn đến lãi suất kinh doanh (cả tiền gửi và tiền vay của NH) trên thị trường thời gian tới tăng cao. Người có lợi nhiều nhất trong hai quyết định LS vừa qua là các TCTD. Giới NH hiện nay rất khó giải thích tại sao trong bối cảnh năm 2008, 2009 mà NH vẫn lãi lớn (so với kế hoạch), nợ xấu ở mức thấp. Đã không có một báo cáo phân tích nào cụ thể để chỉ ra khoản lợi nhuận lớn của các NHTM đến từ đâu trong bối cảnh nền kinh tế bị suy giảm và vẫn đang còn nhiều khốn khó. Trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ở Mỹ nền kinh tế lao đao dẫn đến NH bị phá sản nhiều. VN nền kinh tế suy giảm nhiều, nhưng NH lại ăn nên làm ra? Năm 2010 này, theo một số ý kiến sẽ là môt năm khó khăn nhất trong 3 năm 2008, 2009, 2010. Các DN sẽ sống ra sao khi tỉ suất lợi nhuận bình quân thấp mà vốn vay trung, dài hạn phải chịu LS từ 15% -20% và rất khó vay được vốn ngắn hạn theo trần? Những lợi ích DN có được từ dùng vốn kích cầu năm 2009 sẽ sắp phải trả lại hết, thậm chí còn phải trả cao hơn trong năm 2010, không khéo thì "của thiên lại trả địa". Mà nếu DN khó khăn thì giới NH sống nổi không? Chính phủ đang dùng những nguồn lực dự trữ ít ỏi để cứu DN cũng là cứu giới NH, nhưng nếu có DN nào đó bị khó khăn, phá sản vì khó tiếp cận vốn hay tiếp cận với nguồn vốn với mức giá quá cao trong khi giới NH không trả giá chút nào thì cũng là điều quá đáng tiếc, bởi ngân sách là của chung của tất cả nhưng lại chỉ có một số được hưởng mà thôi.

Tin nóng

Tin mới