Một căn nhà ba diện tích

Gốc
(PL)- Huyện bảo 34 m2, tỉnh nói 43 m2, tòa sơ thẩm lại tăng 59 m2. Ai đúng, ai sai?

Theo hồ sơ, năm 1991, bà B. có mua một căn nhà tại thị trấn Cai Lậy và đã được UBND huyện Cai Lậy cấp giấy chủ quyền. Bốn năm sau, bà cho người cậu ruột ở nhờ với lời giao kết miệng: “Tôi cho cậu ở nhờ, đến lúc nào có nhà thì cậu trả lại cho tôi. Cậu cứ sửa chữa, tu bổ nhà để ở cho thoải mái”. Cùng năm đó, do người cậu mất nên con trai ông (là ông D.) tiếp tục ở nhờ. Hai giấy chứng nhận Mọi chuyện diễn ra bình thường cho đến khi bà B. làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận. Bà hết sức bất ngờ với thông tin vào năm 2004, ông D. đã được UBND tỉnh Tiền Giang cấp giấy hồng cho chính căn nhà ở nhờ nói trên. Tranh chấp xảy ra, ông D. bảo căn nhà đó của cha mình mua từ năm 1991 nhưng lúc đó vì chưa có hộ khẩu ở thị trấn nên ông đã nhờ bà B. đứng tên giùm. Sau khi cha ông sửa lại nhà, bà B. đã cầm giấy chủ quyền đến đòi nhà. Bấy giờ, cha ông đã cho bà B. hai chỉ vàng nên bà B. không tranh chấp nữa. Sau khi cha mất, ông đã đứng tên xin cấp giấy chủ quyền nhà. Không thỏa thuận được, bà B. đã khởi kiện đòi lại nhà cho ở nhờ. Xử sơ thẩm cuối năm 2008, TAND huyện cho rằng giấy chủ quyền của bà B. hợp pháp bởi khi tòa hỏi thì chính UBND huyện Cai Lậy đã có công văn khẳng định điều này. Mặt khác, bà B. trưng ra được hợp đồng mua bán gốc năm 1991 với chủ nhà cũ như đã khai. Ngược lại, giấy chủ quyền của ông D. không hợp pháp vì ông được cấp theo diện thừa kế trong khi cha ông không có giấy tờ nhà. UBND huyện Cai Lậy đã làm sai quy định khi đề nghị UBND tỉnh Tiền Giang cấp chủ quyền cho ông D. dựa trên cơ sở có người làm chứng và nội dung xác nhận không có tranh chấp. Cách xử lý này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B. vì tại thời điểm đó bà vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà. Tại tòa, phía bà B. đề nghị ông D. giao trả nhà, đất kèm theo đề nghị sẽ thanh toán cho ông D. hơn 79 triệu đồng là số tiền ông đã bỏ ra để sửa chữa nhà. Tuy nhiên, án sơ thẩm chỉ cho phép bà nhận hơn 290 triệu đồng tiền đất (tính trên 59 m2) từ ông D. Tòa sơ thẩm cũng đề nghị UBND huyện thu hồi giấy chủ quyền nhà đã cấp cho bà B. để ông D. được tiếp tục làm chủ sở hữu nhà. Cả hai bên đương sự đều kháng cáo. Chưa rõ diện tích Tuy không cử đại diện tham dự phiên tòa nhưng sau khi kiểm sát bản án, viện trưởng VKSND huyện đã quyết định kháng nghị bản án trên theo trình tự phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án, giao cấp sơ thẩm xử lại. Theo viện, tòa sơ thẩm đã thu thập chứng cứ không đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tháng 2-2009, tại phiên xử phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Theo TAND tỉnh, nội dung nhận định của tòa sơ thẩm về việc căn nhà đã được phía ông D. xây mới toàn bộ là không có căn cứ vững chắc vì biên bản thẩm định chưa kết luận toàn bộ vật liệu xây căn nhà hiện nay là mới hoàn toàn hay có một phần vật liệu của nhà cũ của bà B. Mặt khác, trên giấy chủ quyền của bà B., UBND huyện công nhận diện tích nhà là 34 m2. Nhưng trên giấy chủ quyền của ông D., UBND tỉnh lại công nhận diện tích nhà hơn 43 m2. Đến khi xử sơ thẩm, tòa án huyện lại cho rằng diện tích nhà lên đến hơn 59 m2. Vậy chính xác thì căn nhà rộng bao nhiêu? Cho rằng những thiếu sót này là không thể bổ sung, khắc phục, TAND tỉnh đã hủy toàn bộ án sơ thẩm, giao hồ sơ cho TAND huyện Cai Lậy giải quyết lại.

Tin nóng

Tin mới