Muốn thành công, doanh nghiệp nên lựa chọn ngành sản xuất, kinh doanh nào?

Gốc
Lựa chọn tham gia vào ngành sản xuất, kinh doanh nào là quyết định mang tầm chiến lược, có thể dẫn doanh nghiệp đến thành công hay thất bại. Một vài kiến thức sau đây có thể giúp nhà quản trị ra quyết định chính xác.

Tương tự như doanh nghiệp, bất cứ ngành sản xuất, kinh doanh nào cũng phát triển và diễn tiến theo thời gian.

Chu kỳ sống của ngành

Tương tự như doanh nghiệp, bất cứ ngành sản xuất, kinh doanh nào cũng phát triển và diễn tiến theo thời gian. Không chỉ nhóm doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành của một doanh nghiệp thay đổi liên tục, mà bản chất và cấu trúc của ngành cũng có thể thay đổi khi ngành trưởng thành và thị trường của nó được xác định rõ hơn.

Giai đoạn phát triển của một ngành ảnh hưởng bản chất của cạnh tranh và khả năng sinh lợi tiềm năng của doanh nghiệp. Mỗi ngành đều trải qua 5 giai đoạn phân biệt trong chu kỳ sống của ngành.

Đầu tiên là giai đoạn giới thiệu. Nhu cầu đối với sản phẩm của ngành còn thấp, do sự nhận biết về sản phẩm hoặc dịch vụ đang hình thành, bao gồm những người mua lần đầu, có xu hướng chấp nhận rủi ro và đổi mới. Trong giai đoạn này, công nghệ là mối quan tâm chủ yếu, vì doanh nghiệp thường tìm cách cải thiện hiệu suất sản xuất và phân phối khi hiểu rõ hơn về thị trường.

Tiếp đến là giai đoạn tăng trưởng, xuất hiện sau khi những vấn đề then chốt về công nghệ đã được xử lý và nhu cầu người tiêu dùng bắt đầu tăng. Giai đoạn này tiếp tục tăng trưởng cho đến khi có xu hướng chậm lại do nhu cầu thị trường tiến đến bão hòa, nhiều doanh nghiệp sinh lợi cần vốn để đầu tư vào cơ sở hay công nghệ mới. Một số doanh nghiệp yếu kém có thể bị đánh bật ra khỏi ngành trong giai đoạn này.

Tiếp theo là giai đoạn sàng lọc. Khi ngành tăng trưởng không còn đủ nhanh để hỗ trợ số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng trong ngành. Kết quả sự tăng trưởng của doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn lực và vị thế cạnh tranh của nó, thay vì vào sự tăng trưởng của ngành. Doanh nghiệp yếu kém buộc phải ra khỏi ngành, và một số nhỏ doanh nghiệp dẫn đầu ngành có thể nổi lên.

Giai đoạn bão hòa xảy ra khi lượng cầu thị trường đối với sản phẩm của ngành hoàn toàn bão hòa, tốc độ tăng trưởng của ngành có thể thấp, hoặc còn có thể âm. Hầu như mọi sản phẩm đều được nâng cấp hay thay thế. Các tiêu chuẩn của ngành đối với chất lượng, dịch vụ đã được thiết lập và kỳ vọng của khách hàng có xu hướng nhất quán hơn so với hững giai đoạn trước.

Cuối cùng là giai đoạn suy thoái, diễn ra khi nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ của một ngành giảm, và thường bắt đầu khi người tiêu dùng chuyển qua sử dụng sản phẩm thuận tiện hơn, an toàn hơn hay chất lượng cao hơn của doanh nghiệp thuộc các ngành thay thế. Nhiều doanh nghiệp thường giải thể một số đơn vị kinh doanh trong giai đoạn này, một số doanh nghiệp khác có thể tìm cách “tự sáng tạo” và theo đuổi tăng trưởng liên quan tới một sản phẩm hay dịch vụ tương tự.

Tuy mô hình chu kỳ sống của ngành là một căn cứ hữu ích, nhưng trong việc phân tích, xác định chính xác giai đoạn hoặc khung thời gian các giai đoạn của một ngành thường gặp khó khăn. Hơn nữa, không phải mọi ngành đều tuân theo đúng các giai đoạn này. Khi một ngành suy thoái, thay đổi trong môi trường kinh doanh cũng có thể làm hồi phục lại chu kỳ tăng trưởng mới.

Cấu trúc ngành

Các nhân tố liên kết tới cấu trúc ngành giữ vai trò nổi trội đối với thành quả của nhiều công ty.

Nhà kinh tế nổi tiếng Michael Porter đã đề xuất cách tiếp cận hệ thống để phân tích tiềm năng sinh lợi của doanh nghiệp trong một ngành; theo đó, lợi nhuận tổng hợp của mọi doanh nghiệp cạnh tranh sẽ phụ thuộc vào 5 lực cạnh tranh cơ bản, với những biến đổi tùy theo ngành.

Năm lực này là cường độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện hữu, nguy cơ gia nhập ngành của các doanh nghiệp cạnh tranh mới, nguy cơ sản phẩm hay dịch vụ thay thế, sức mạnh mặc cả (bargaining power) của người mua và người bán.