Nét duyên quan họ

Gốc
Ở vùng Kinh Bắc, từ khi mới sinh ra, trẻ thơ đã được ông, bà, cha, mẹ hát ru bằng những làn điệu dân ca quan họ truyền thống và cứ như vậy khi lớn lên, người ta vẫn không thể quên được những làn điệu dân ca độc đáo này, các thế hệ tiếp nối nhau hát quan họ, người trước truyền dạy người sau. Ngày nay, từ trẻ em đến người già tóc bạc đều biết hát quan họ... Nhiều người con của quê hương đi xa cũng không thể nào quên được những âm vang tha thiết đó, những hương vị đặc trưng của quê nhà.

Nói đến chơi quan họ là nói đến một lối chơi có quy củ, nền nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu... 'chơi cho chỉ nổi kim chìm, chơi cho lở đất long trời' mới xứng là trai gái Kinh Bắc. Nhưng không chỉ có thế, quan họ còn có lối hát tự do, ngẫu hứng thể hiện sự phóng khoáng trong những canh hát ngày xuân. Hát để thay cho nói, tâm sự gửi cả vào trong câu hát, đó cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa ngàn đời qua ở đây. Đối với quan họ thì yếu tố vang, rền, nền, nảy là không thể thiếu được và đòi hỏi người hát phải trải qua một quá trình rèn luyện rất kỳ công mới đạt đến độ chuẩn đó. Các bài quan họ thường thể hiện tâm trạng tình yêu đôi lứa, khát vọng sống ấm no, hạnh phúc, nỗi nhớ mong, tương tư của người quan họ, cái sầu man mác, tương tư như lời của một làn điệu: 'để có ai xuôi về, cho em nhắn, cho em nhủ... ai bâng khuâng trong gió? Ai mải đi tìm trong chiều hội xuân...' nghe sao mà sâu lắng, thiết tha đến vậy! Tất cả tình cảm đều được người quan họ thể hiện một cách tế nhị và kín đáo. Trước đây các làng quan họ thường hát giao lưu, hát xuyên đêm đến sáng hôm sau mới tàn cuộc hát. Vì vậy, người quan họ thường có câu: 'càng về khuya quan họ càng bay bổng, càng trầm, càng mặn nồng tình nghĩa' bởi về khuya tâm trạng người quan họ được thăng hoa, giãi bày hết qua những câu hát dân ca, đẩy cuộc vui đến cao trào. Văn hóa quan họ còn là cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi có khách đến chơi nhà 'đôi tay nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say'. Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn... rồi ca xướng cho tan canh mãn vỡ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy bịn rịn, quyến luyến trong câu hát 'Người ơi người ở đừng về Người về em vẫn khóc thầm, Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa...' hay là 'Bây giờ kẻ bắc người nam, Trăm năm chỉ có một ngày, Đàn cầm ai nỡ dứt dây cho đành, Quan họ nghỉ chúng em ra về...' tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ 'Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này... người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin'... và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết 'Đến hẹn lại lên'... trong mùa hội tới. Quan họ không chỉ là nghệ thuật hát mà nó còn là văn hóa, là 'ứng xử' của người dân Kinh Bắc, 'mỗi khi khách đến chơi nhà', không chỉ 'rót nước pha trà' mời khách, mà cùng với đó, là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: 'Mỗi khi khách đến chơi nhà/ đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng'... Khi xưng hô với nhau, lúc nào người quan họ cũng nhận mình làm em, cái tôi cá nhân nhường chỗ cho sự kính trọng, khiêm nhường. Nhờ vào những canh hát quan họ mà những người nông dân chân lấm tay bùn đã thoát ra khỏi sự vất vả, cực nhọc để lạc vào thế giới của thần tiên... Câu hát không phải là 'chót lưỡi đầu môi' mà phải chơi, phải hát sao cho thể hiện được lòng mình, cái tình của người hát trong đó. Trong các dịp hội hè như hội Lim, hội Thổ Hà, hội Bổ Đà, hội Diềm, Thị Cầu... thường có lối hát đối đáp, hát giao duyên, các làng quan họ mời nhau đến dự hội làng mình, đặc biệt là các làng quan họ có mối thông giao kết chạ đến chung vui để cùng nhau khoe sắc, khoe tài trong bộ trang phục khăn xếp áo the của các liền anh và bộ áo tứ thân mớ ba, mớ bảy cùng chiếc nón quai thao duyên dáng của liền chị, để rồi cùng ca lên những làn điệu dân ca mượt mà, đằm thắm, thấm đượm hồn quê. Xưa kia, các làng quan họ cổ thường có tục hát kết bạn, bao gồm cả bên nam và bên nữ, từ những canh hát kết bạn đó đã trở nên ân nghĩa truyền đời qua nhiều thế hệ, các làng kết bạn với nhau còn giúp nhau trong cuộc sống, lao động hằng ngày. Điều đặc biệt là trai, gái các làng quan họ kết bạn với nhau thì không được lấy nhau, và chỉ được coi nhau như anh em, cùng nhau đùm bọc, sẻ chia mọi nỗi vui buồn như anh em trong nhà. Ngày nay, vùng Kinh Bắc còn có hội hát quan họ đầu xuân, hát trong hội làng, trong các ngày lễ, Tết của dân tộc... để các liền anh, liền chị thi thố tài năng và phục vụ cho công chúng, các hội làng quan họ nổi tiếng như: Hội Lim, Thị Cầu, Viêm Xá, hội Diềm, Sen Hồ, hội Thổ Hà... Những làn điệu dân ca quan họ không chỉ là niềm tự hào, là vốn riêng của người dân Kinh Bắc, mà còn là niềm kiêu hãnh, là nét đẹp văn hóa rất riêng của người dân Việt Nam, năm 2009, đã chính thức được UNESCO vinh danh và trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trong đó Bắc Giang có năm làng trong danh sách những làng quan họ cổ được vinh danh là: Nội Ninh, Giá Sơn, Hữu Nghi, Mai Vũ (của xã Ninh Sơn) và Sen Hồ (thị trấn Nếnh).

Tin nóng

Tin mới