Ngân hàng Trung Quốc sau cơn sốt tín dụng

Gốc
Việc cho vay một cách hào phóng trong năm 2009 đã đưa các ngân hàng Trung Quốc tới những rủi ro mới.

Mặc dù chính phủ Mỹ đã kích thích, van nài và người đóng thuế ở Mỹ đã tài trợ những gói cứu nguy tài chính khổng lồ, trong năm qua các ngân hàng Mỹ vẫn chỉ cho vay nhỏ giọt, dường như họ bận tâm nhiều tới việc bổ sung quỹ tiền thưởng và vốn dự trữ hơn là giúp vực dậy nền kinh tế. Ở Trung Quốc, sự việc diễn ra khác hẳn. Cũng như nhiều chính phủ khác, Bắc Kinh đã đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 bằng một gói kích thích kinh tế lớn, trị giá 4.000 tỷ nhân dân tệ (586 tỷ đô la Mỹ), thực hiện trong hai năm. Nhưng không giống các chính phủ khác, ngoài gói kích thích này, Bắc Kinh còn ra lệnh – chứ không phải yêu cầu – các ngân hàng thực hiện một biện pháp kích thích tương tự dưới hình thức đẩy mạnh cho vay. Trong năm 2009, các ngân hàng Trung Quốc đã cho vay tới 10.000 tỷ nhân dân tệ, gấp đôi mức của năm trước. Cho đến nay nguồn tài chính khổng lồ này đã giúp Trung Quốc chống đỡ cơn bão kinh tế một cách xuất sắc, nhưng đây là một biện pháp tốn kém. Không chỉ chính phủ Trung Quốc đang lo sợ khả năng lạm phát tăng cao do gói kích thích kinh tế mà còn có nguy cơ bất ổn về bong bóng tài sản, sản xuất thừa mứa và lãng phí từ các dự án đầu tư chồng chéo. Riêng trong ngành ngân hàng, bùng nổ tín dụng đe dọa xóa sạch những tiến bộ đạt được những năm gần đây về việc giảm tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng. Một thập niên về trước, hệ thống ngân hàng Trung Quốc vật vã dưới gánh nặng nợ khó đòi. Theo báo cáo của Ngân hàng trung ương nước này, năm 1999 nợ xấu chiếm gần 40% tổng dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng. Sang năm 2000, số liệu chính thức cho biết tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng thương mại lớn giảm xuống mức 29%, song theo quan sát của các nhà phân tích phương Tây không tin vào chuẩn mực kế toán Trung Quốc, thực tế con số này cao hơn nhiều. Nợ xấu, hay nợ khó đòi, được định nghĩa là những món nợ mà người vay chưa thanh toán được sau ba tháng kể từ ngày đáo hạn. Chính phủ Trung Quốc đã cam kết sẽ hạ tỷ lệ này xuống 15% vào năm 2005, và đến cuối năm 2007 chính quyền công bố nợ xấu đã xuống dưới mức 7%. Một yếu tố đằng sau việc giảm tỷ lệ nợ xấu là các ngân hàng phải nỗ lực làm sạch sổ sách để thu hút vốn đầu tư tư nhân và nước ngoài. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, việc làm giảm nợ xấu chỉ là trò ảo thuật; nợ xấu được chuyển vào các công ty mua bán nợ được lập ra một cách đặc biệt hoặc đặt dưới sự bảo lãnh mơ hồ của chính phủ. Ngay cả những người ít hoài nghi nhất cũng công nhận rằng, tỷ lệ nợ xấu giảm phản ánh tình trạng pha loãng nợ xấu vào một đại dương những món vay mới mà nhiều món vay đó sẽ biến thành nợ xấu dù chưa được liệt vào dạng nợ khó đòi. Tuy nhiên, ngày nay đang nổi lên những mối quan tâm mới về tình trạng và bản cân đối tài sản của các ngân hàng Trung Quốc. Thống đốc Ngân hàng trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên (Zhou Xiaochuan) đã công khai nói tới những mối lo đó hồi đầu tháng 1/2010 và nói bóng gió về việc làm chậm lại dòng chảy tín dụng. Dòng chảy tín dụng lớn “không chỉ trái với mục tiêu điều chỉnh cơ cấu kinh tế mà còn đặt ra những rủi ro về chất lượng tín dụng ngân hàng”, ông Chu nói trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí. Gần đây, hồi tháng 11/2009, để trấn an dư luận, các quan chức ngân hàng cao cấp của Trung Quốc đã nói chắc về khả năng tránh né những vấn đề về chất lượng tín dụng. Ông Khương Kiến Thanh (Jiang Jianqing), Chủ tịch Ngân hàng Công Thương Trung Quốc – ngân hàng cho vay lớn nhất nước này, công khai dự báo rằng đợt cho vay nhiều kỷ lục năm 2009 sẽ không dẫn tới bất kỳ sự gia tăng nào trong tỷ lệ nợ quá hạn. Tuy phát biểu lạc quan như vậy, giới lãnh đạo ngân hàng trung ương Trung Quốc vẫn tìm mọi cách làm hạ nhiệt cơn sốt tín dụng. Đầu tháng này, Thống đốc Chu hứa hẹn sẽ tìm cách “cải tiến trọng tâm và tính linh hoạt của chính sách” và “xử lý tốt các bước tăng trưởng tín dụng và tiền tệ, hướng dẫn các định chế tài chính tiến tới việc mở rộng tín dụng một cách cân bằng và tránh sự xáo trộn quá đáng”. Ông Chu còn nói tới việc sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng như là một công cụ chính sách; và ngày 12/1 vừa qua ngân hàng trung ương nước này đã công bố tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 0,5 điểm phần trăm, các ngân hàng phải dành 16% tổng lượng tiền gửi để làm quỹ dự trữ bắt buộc. Theo bà Jing Ulrich, Giám đốc điều hành bộ phận chứng khoán Trung Quốc tại Hồng Kông của Ngân hàng JPMorgan, nửa đầu năm nay Trung Quốc sẽ dần dần siết chặt chính sách, dựa vào các biện pháp hành chính hơn là điều chỉnh lãi suất. Trong một báo cáo nghiên cứu ngày 12/1/2010, bà Ulrich dự báo mức tăng dư nợ tín dụng năm nay của Trung Quốc sẽ giảm khoảng 20 - 30% so với năm 2009. Tuy vậy, bà Ulrich cũng kỳ vọng chính quyền Trung Quốc sẽ tiếp tục các chính sách kích thích tiêu dùng mà họ đã ban hành năm 2009, bao gồm việc khuyến khích các công ty tài trợ tín dụng tiêu dùng, trợ giá cho các chủ xe hơi tư nhân bán xe cũ mua xe mới và trợ giá cho việc mua sắm hàng gia dụng đắt tiền. Trung Quốc đang lo sợ khả năng lạm phát tăng cao, bong bóng tài sản, sản xuất thừa mứa và lãng phí từ các dự án đầu tư chồng chéo. Trong khi đó, có vẻ như Trung Quốc khó mà đạt được mục tiêu thúc đẩy sức tiêu thụ nội địa nhằm bù lại sự sụt giảm nhu cầu ở nước ngoài khi chính phủ nước này kiên quyết “neo chặt” đồng nhân dân tệ vào đồng đô la Mỹ. Trong khi việc neo giá đồng tiền có thể dẫn tới xung đột chính trị, nó đã thành công trong việc thúc đẩy xuất khẩu – hoạt động mà nhiều công ty, và công ăn việc làm, của Trung Quốc phụ thuộc vào, cho dù nó cũng đang làm teo tóp sức mua của người dân do đồng tiền được quy đổi thấp hơn giá trị thực. Trung Quốc đang lo sợ khả năng lạm phát tăng cao, bong bóng tài sản, sản xuất thừa mứa và lãng phí từ các dự án đầu tư chồng chéo. Theo ông Michael Pettis, giáo sư ngành tài chính trường Quản lý Guanghua thuộc Đại học Bắc Kinh, áp lực đang gia tăng lên các ngân hàng Trung Quốc cũng sẽ cản trở đà tiến tới mục tiêu nâng cao sức tiêu thụ nội địa. Ông Pettis nói, tác động “gần như không thể tránh khỏi” là vụ bùng nổ tín dụng gần đây dẫn tới sự gia tăng nợ khó đòi và gánh nặng của công cuộc tái cấp vốn cho các ngân hàng cuối cùng sẽ đặt lên vai các hộ gia đình. Vì đa số cổ phần trong nhiều ngân hàng Trung Quốc hiện thời nằm trong tay các nhà đầu tư tư nhân và ngoại quốc, chính phủ Trung Quốc sẽ không sẵn sàng cung cấp tiền bạc cho các ngân hàng hoặc mua lại các khoản nợ xấu với giá cao hơn giá trị thực. Theo ông, điều đó sẽ buộc các ngân hàng nới rộng khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay. Và người dân Trung Quốc xưa nay bị thiệt thòi vì lãi suất tiền gửi quá thấp, nay lại càng khó khăn hơn. “Các hộ gia đình đã bị đóng thuế một cách hiệu quả qua việc lãi suất tiền gửi bị ấn định ở mức thấp. Không thể vừa tăng thuế lên thu nhập của hộ gia đình vừa mong muốn họ gia tăng tiêu thụ”, ông Pettis nói.

Tin nóng

Tin mới