Ngành Công Thương: Tháo gỡ vướng mắc để tăng trưởng

Gốc
Theo số liệu Bộ Công Thương, 8 tháng đầu năm, toàn ngành tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2016 (cùng kỳ tăng 6,9%). Trong đó các lĩnh vực chế biến, chế tạo tăng 10,8% (cùng kỳ tăng 9,7%); sản xuất và phân phối điện tăng 8,6% (cùng kỳ tăng 11,8%) và cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,4%.

Ngoài ra, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước như, sản xuất kim loại tăng 21,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 17,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng10,1%… Một số ngành có mức tăng trưởng giảm hoặc tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ tiếp tục tập trung chủ yếu ở lĩnh vực khai khoáng: Khai thác than cứng và than non tăng 3,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,1%; sản xuất thuốc lá giảm 1,8%; sản xuất thuốc và hóa dược, dược liệu giảm 2,1%...

Ngành Công Thương: Tháo gỡ vướng mắc để tăng trưởng - Ảnh 1

Nhóm hàng điện tử, máy vi tính và thiết bị điện tiếp tục xu hướng tăng trưởng cao của đầu năm. ảnh: Xuân Sinh

Từ kết quả kinh tế 8 tháng, thời gian tới Bộ Công Thương sẽ tiếp tục giao Sở Công Thương các tỉnh thành phố tiếp tục bám sát diễn biến của thị trường để có các phương án sản xuất kinh doanh tối ưu nhằm đóng góp tốt hơn cho tăng trưởng GDP.

“Các lĩnh vực trong ngành khai khoáng như dầu thô, than đá..., cần bám sát diễn biến của thị trường để có phản ứng chính sách cũng như điều tiết cụ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước bảo đảm hiệu quả tối ưu và đóng góp tốt hơn cho tăng trưởng GDP” – báo cáo của Bộ Công Thương nêu rõ.

Ngoài ra, Bộ cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu, thông qua các chính sách về thuế, phí... để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để giúp cho các doanh nghiệp cắt giảm được chi phí, phát triển thị trường, cạnh tranh có hiệu quả với các sản phẩm nhập khẩu cũng như đẩy mạnh được xuất khẩu, qua đó tăng trưởng được sản lượng sản xuất.

Đơn cử như với trường hợp ngành than, trong thực tế hiện nay, tổng hợp các loại thuế và phí chiếm trong giá thành than hiện nay khoảng 14 - 15% đối với than tiêu thụ trong nước và khoảng 35% đối với than xuất khẩu. Nếu tính cả tiền cấp quyền khai thác (2%) thì thuế tài nguyên đối với than hầm lò hiện nay khoảng 12%, than lộ thiên khoảng 14%, cao hơn từ 7 - 10% so với các nước trong khu vực, làm giảm sức cạnh tranh của than sản xuất trong nước so với than nhập khẩu. Ngoài ra, đối với ngành phân bón, chính sách thuế VAT đối với phân bón và vật tư nông nghiệp cũng làm gia tăng đáng kể giá thành sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước với hàng hoá nhập khẩu.

Anh Tuấn

Tin nóng

Tin mới