“Người đàn bà thép” của văn chương hậu hiện đại (Phần 2)

Gốc
Trong Tay sát thủ mù, thế giới viễn tượng, huyền ảo của Margaret Atwood mang một ý nghĩa hoàn toàn mới, được đặt song song và liên hệ đặc biệt với thế giới tạm thời được quan niệm là “đời thực” đang diễn ra.

Hiệu ứng Câu chuyện không bao giờ kết thúc Nếu trong Chuyện người Tùy nữ, bối cảnh giả tượng được xem là "hiện thực" và được đặt liên - văn bản với ghi chép về một cuộc hội thảo khoa học nhưng lại hết sức lộn xộn, mù mờ, nhiễu loạn, cũng là "hiện thực" của vài chục năm sau, kết cấu này chỉ có tác dụng nhấn mạnh thêm tính chất không xác định, mơ hồ, vô tăm tích của câu chuyện, thì trong Tay sát thủ mù, có một quy ước rõ ràng giữa các nhân vật, giữa người đọc và nhà văn, rằng thế giới giả tưởng đó chắc chắn là sản phẩm hư cấu; nó sẽ được soi rọi và được đọc, như một bản miêu tả của tâm trí con người. Bìa cuốn sách Tay sát thủ mù bản tiếng Anh. Câu chuyện trong cuốn tiểu thuyết của Laura Chase, được xuất bản vào năm 1947, khiến cho tác giả của nó trở nên cực kỳ nổi tiếng, có tên Tay sát thủ mù, kể về đôi tình nhân bị cấm đoán những năm đầu Thế chiến II, nàng là tiểu thư tầng lớp elite, chàng là kẻ trốn chạy cảnh sát, sống chui lủi, và kiếm sống nhờ viết những câu chuyện giả tưởng cho tạp chí. Câu chuyện của chàng trai, nhân vật tiểu thuyết, "thù đãi" bạn gái mình mỗi lần hò hẹn, kể về một thế giới kỳ ảo ngoài thời gian, nơi đó những người trẻ tuổi bị buộc làm nô lệ trong hoàn cảnh tàn nhẫn cho tới lúc đui mù, và được huấn luyện giết người. Tất cả được đặt xen kẽ với những bài báo thời sự chính giới, kinh tế và án mạng, "có thực" của thời kỳ những năm sau Thế chiến I - sau Thế chiến II. Sự chồng chéo có vẻ như thừa thãi những người kể chuyện, những câu chuyện (chứ không phải câu chuyện của những nhân vật khác nhau trong cùng một hệ quy chiếu về "lịch sử "- không gian, thời gian) tạo ra sự giải - trung tâm, với nhiều điểm nhìn trần thuật, cũng như nhiều khả thể khác nhau của việc mô tả cùng một giai đoạn hiện thực, sẽ có sự đối chiếu với kinh nghiệm riêng của người đọc về giai đoạn hiện thực trong tác phẩm, cụ thể là thời kỳ sau Thế chiến I - sau Thế chiến II. Câu chuyện của Iris, bao gồm cả thái độ khô cằn, lãnh đạm của bà với phần đời hiện tại của mình, và sự khúc chiết, sống động, choáng váng của những cảm xúc và suy tưởng về quá khứ. Câu chuyện tiểu thuyết của Laura là chuyện tình lãng mạn nhưng day dứt, cay đắng, nghịch lý, và không có kết thúc. Câu chuyện của lịch sử đơn thuần thì lạnh lùng, xác đáng. Câu chuyện của chàng trai viết cho tạp chí giả tưởng, lại huyền hoặc, khủng khiếp, đau đớn. Cố tìm ra sự liên hệ trong lớp lang của cuốn tiểu thuyết, một số nhà phê bình cho rằng, câu chuyện tình lãng mạn (do Laura viết) chính là sự phản ánh gián tiếp tuổi thanh xuân đầy hương sắc của Iris và Laura, cũng như có một ẩn dụ bao trùm toàn bộ hệ thống trần thuật, ẩn dụ về Tay sát nhân mù - sự vận động đầy trớ trêu của đời sống đẩy con người ta vào tình trạng vô định, trôi dạt, và cái chết, dù có hay không hẹn trước, bất chấp những cố gắng lý giải, định vị của tâm trí; phủ lên tác phẩm một bức màn siêu hình. Một cách tiếp cận khác: ngoài những hình dung mở, khả thể mở về cùng một giai đoạn lịch sử - con người có thực, từ nhiều chiều thời gian và không gian, Tay sát thủ mù còn có một đề tài ngầm ẩn, đó là đề tài về "sự kể chuyện". Giữa các câu chuyện mà Atwood bày ra, gần như không có một liên hệ thống nhất tư biện nào, ngoại trừ việc cùng xoay quanh một hoàn cảnh lịch sử "có thật" sẽ được bạn đọc kiểm chứng. Việc Iris và Laura là chị em ruột, chứng kiến sự tồn tại của nhau, thực ra không có tác dụng "bảo lãnh" rằng những gì Laura hay Iris kể là "có thực" - một hình ảnh chân thực về đời sống theo ý đồ của nhà văn. Tính chất chắc chắn (do tác giả đảm bảo, như một thông tin cố định để quy chiếu) trong những hồi ức của Iris hay tính chân thực văn chương từ đôi tình nhân trong hư cấu của Laura, thực ra là ngang nhau, và chân thực ngang với những ảo giác của một bà già ngoại bát tuần rất có thể là lẩn thẩn, lẫn lộn. Lúc này, tính chất huyễn tưởng, huyễn ảo của câu chuyện Tay sát thủ mù, như một lời giải chung cho toàn bộ cấu trúc trần thuật của Atwood: tất thảy đều là sản phẩm của tâm trí ưa phiêu lưu, thay hình đổi dạng, ưa những chuyện hoang đường kỳ vĩ hay tưởng tượng không giới hạn mà thôi. Có thể cắt rời thành bốn câu chuyện mà không mảy may phương hại tới sự trần thuật. Như vậy, khả năng đối chiếu để tìm ra quan hệ tương đồng là không nhất thiết. Đây là bốn câu chuyện với bốn khả tín khác nhau, hay là "sự kể chuyện" không đáng tin cậy. "Sự kể chuyện" hay "tiểu thuyết trong tiểu thuyết" dễ bị nhầm lẫn với đề tài văn học, hoặc đề tài cách kể và miêu tả một câu chuyện như thế nào. Trong khi thực chất, nó là vấn đề tạo ra những khả thể trần thuật khác nhau, những điểm nhìn trần thuật riêng rẽ, trước hết bằng việc "phong cho" những người kể chuyện khác nhau trong tác phẩm, năng lực nhà văn hoặc nghệ nhân, hoặc ít nhất là kẻ có máu mê kể chuyện. "Sự kể chuyện" thông qua bốn văn bản khác nhau mới là cái đích cuối cùng mà nhà văn tác động tới bạn đọc. "Sự kể chuyện" ấy khiến cho chúng ta, bạn đọc, chúng ta hồ nghi chính "câu chuyện thứ năm", câu chuyện mà chúng ta được biết thông qua các kênh tri thức khác về lịch sử, không phải cuốn sách này của Atwood, câu chuyện mà chúng ta thường đem ra đối chiếu mỗi khi đọc một cuốn sách mới, để điều chỉnh và xem những gì là khả dĩ, đáng tin. Như vậy, khả dĩ mỗi chúng ta, bạn đọc, lại phải tiếp tục tự mình đi kiếm tìm những khả thể khác và khác nữa, cho hiện thực mà nhà văn đã gợi ra. Có thể thấy rằng, dù là câu chuyện của Iris, một bà già lẩn thẩn máu mê ghi chép, hồi cố, hay câu chuyện hư cấu vừa ngọt ngào vừa cay đắng của nhà văn trẻ Laura, hay câu chuyện giả tưởng đen tối huyền ảo của anh chàng nhà văn phải trốn chạy, cho tới sự xác thực chẳng ai kiểm chứng nổi của những mẩu tin báo chí, đều là sản phẩm của những cố gắng tuyệt vọng tìm cho tâm trí con người một nơi chốn xác tín yên bình khả dĩ, hay cố gắng để "khắc dấu mạn thuyền" về một thế hệ "đang trôi qua". Có ai đọc những dòng này của Atwood mà lại không từng cảm thấy sự phù du và vô minh trong mỗi biểu hiện của tồn tại kiếp người: "Cha tôi thả một viên đường vào cốc cà phê, khuấy, gõ nhẹ thìa lên thành cốc. Tôi theo dõi ông qua thành ly sô đa. Bỗng dưng ông trông hoàn toàn khác; trông như một người tôi chưa từng gặp trước đây - loãng hơn, bớt tập trung hơn, nhưng cũng rõ nét hơn... Ngay cả quần áo thường ngày của ông cũng biến thành huyền bí trong ánh sáng lờ mờ mùi va ni, cứ như chúng thuộc về người khác và ông chỉ vừa mượn về mặc tạm. Quần áo to quá khổ với ông, đúng thế. Ông đã thu nhỏ lại. Nhưng đồng thời ông cũng cao lên". Thế hệ nhà văn dấn thân Nhà văn Margaret Atwood. Ảnh: cbc.ca Người ta có thể có nhiều cách khác để sống hạnh phúc, mà không nhất thiết phải viết văn hay phải có lý tưởng. Nhưng khi đã chọn viết văn, nghĩa là khi đã gia nhập đội ngũ những bộ tâm - não chung của loài người, thì dù có là nhà văn hậu - hiện đại, cũng nhất thiết phải có lý tưởng. Thông thường, ở các tác giả lớn, lý tưởng văn chương hay tri thức, cứ dần choán hết và trở thành lý tưởng đời sống của chính nhà văn, hoặc nó không thể để mặc cho nhà văn tiếp tục sống một cuộc sống thờ ơ, nhỏ hẹp, vị kỷ. Những gì mà Margaret Atwood đã làm cho nền văn chương, cho đất nước của bà, cho đời sống xã hội, không thể gọi đơn thuần là hoạt động "nữ quyền", "chính trị", hay viết lách. Đó là tất thảy những gì làm nên lý tưởng sống, và dần trở thành lý tưởng văn chương của bà, cũng như theo chiều ngược lại. Không thể nói, thế hệ nhà văn như Margaret Atwood là thế hệ chứng kiến những bất hạnh lớn nhất của loài người (biết đâu loài người còn có thể bất hạnh hơn). Nhưng đó là thế hệ phải đứng trước những câu hỏi lớn làm thay đổi toàn bộ nền móng đời sống hiện sinh cũng như tri thức của con người. Chọn cách chủ động dấn thân thay vì bị cuốn vào dòng xoáy biến cố, chọn một quan niệm sáng tác mở - vô cùng, thách thức, cập nhật với đời sống và tri thức, thay vì sự tù túng, là con đường của những nhà văn tiên phong như Margaret Atwood, Jonh Updike, Paul Auster, V. S. Naipaul... Nhà báo Hungary Levaiz Valazs gọi Atwood là "người đàn bà thép vận áo len mỏng" [1], hàm ý ngợi ca sự cương quyết, tính kỷ luật và tấm lòng nhân hậu cũng như tinh thần phóng túng của bà. Còn với nhiều tầng lớp độc giả trên khắp thế giới, Atwood đã trở thành biểu tượng của thế hệ nhà văn dấn thân cho những mục tiêu vì con người. Khánh Phương ----- (1) Trích dẫn của Levais Valazs, Giáp Văn Chung dịch từ bản tiếng Hungary (chưa có ấn bản). Tài liệu tham khảo: - Tôi ghét nhất đặt dấu chấm (phỏng vấn), Người đàn bà thép vận áo len mỏng (ghi chép), Levaizs Valazs, Giáp Văn Chung dịch từ nguyên bản tiếng Hungary; - The Blind Assassin, reviewed by Linda l. Richards; - The Blind Assassin, reviewed by Aaron Hughes; - Tay sát thủ mù, bản tiếng Việt của An Lý dịch; - Bánh mì (truyện ngắn), bản dịch của Hoàng Ngọc Tuấn; - Moral disorder, bản dịch của An Lý. In Thảo luận

Tin nóng

Tin mới